Y Cần Thơ- Powered by TheKyOnline.vn
bn BMI thấp trên siêu âm lại có gan nhiễm mỡ?

Tại sao bn có BMI thấp trên siêu âm lại có gan nhiễm mỡ?

Bài của Đặng Trần Vân Anh.

1.      Gan nhiễm mỡ và ngnhân gây ra nó:

+ Định nghĩa:

      Gan nhiễm mỡ, còn được gọi là bệnh gan nhiễm mỡ (FLD), là một điều kiện thuận nghịch trong đó không bào lớn các chất béo triglyceride tích tụ trong tế bào gan qua quá trình thoái hóa mỡ (tức là, duy trì bất thường của chất béo trong tế bào). Mặc dù có nhiều nguyên nhân, gan nhiễm mỡ có thể được coi là một loại bệnh dịch xảy ra trên toàn thế giới ở những người uống rượu quá mức và những người béo phì (có hoặc không có tác dụng kháng insulin). Các điều kiện cũng được kết hợp với các bệnh khác ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa chất béo. Khi quá trình này của quá trình chuyển hóa chất béo bị phá vỡ, các chất béo tích tụ trong gan với số lượng quá nhiều, vì vậy dẫn đến gan nhiễm mỡ.

   + Nguyên nhân:

Gan nhiễm mỡ thường liên quan đến rượu và hội chứng chuyển hóa ( tiểu đường, tăng huyết áp, béo phì và rối loạn lipid máu) nhưng nó cũng có thể gây ra bởi một trong nhiều nguyên nhân.

·        Chuyển hóa:

Abetalipoproteinemia, bệnh tích trữ glycogen , bệnh Weber-Christian, gan nhiễm mỡ cấp tính của thai kỳ, loạn dưỡng mỡ

Không có bêtalipoprotein máuglycogen storage diseasesWeber-Christian diseaseacute fatty liver of pregnancylipodystrophy

·        Dinh dưỡng:

Suy dinh dưỡng,  nuôi ăn tĩnh mạch hoàn toàn, giảm cân nặng, hội chứng cho ăn trở lại, Phẩu thuật nối tắc hổng-hồi tràng, Phẩu thuật nối tắc dạ dày, vi khuẩn phát triển quá mức ở túi thừa đại tràng.

·        Thuốc và chất độc:

Amiodaronemethotrexatediltiazem, expired tetracyclinehighly active antiretroviral therapyglucocorticoidstamoxifen, environmental hepatotoxins (e.g., phosphorus,mushroom poisoning)

·        Rượu

   Nghiện rượu là một trong những nguyên nhân chính của gan nhiễm mỡ do sản xuất của các chất chuyển hóa độc hại như aldehyde trong sự trao đổi chất của rượu trong gan. Hiện tượng này thường xảy ra với chứng nghiện rượu mãn tính.

·        Nguyên nhân khác:

Bệnh viêm đường ruột, HIV, Viêm gan C (đặc biệt là genotype 3) và thiếu men alpha 1-antitrypsin

Ở phần này chúng ta chỉ nói về gan nhiễm mỡ không do rượu:

BỆNH GAN NHIỄM MỠ KHÔNG DO RƯỢU
(Nonalcoholic Fatty Liver Disease:NAFLD)

1. Định nghĩa: Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu ( NAFLD) là tình trạng tích tụ mỡ ở gan được xác định dựa vào hình ảnh học hoặc sinh thiết gan, sau khi loại trừ các nguyên nhân thứ phát gây nhiễm mỡ ở gan như do rượu, do thuốc, hoặc các bệnh lý như viêm gan siêu vi…

2. Phân loại: Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu được phân loại thành 2 dạng dựa vào mô học gan: gan nhiễm mỡ không do rượu (nonalcoholic fatty liver (NAFL) và viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (nonalcoholic steatohepatitis (NASH)

• NAFL: là tình trạng tích tụ mỡ ở gan không do rượu và không tổn thương tế bào gan
• NASH : là tình trạng tích tụ mỡ ở gan kết hợp với viêm gan gây tổn thương tế bào gan, có hay không xơ hóa gan

3. Yếu tố nguy cơ NAFLD

Đề kháng insulin là trọng tâm cho sự phát triển bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu ( NAFLD). Và tình trạng đề kháng insulin tăng khi bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa ( metabolic syndrome (MS) )( >=3 trên 5 tiêu chuẩn sau) theo ATP III (Adult Treatment Panel III) 
• Vòng bụng >102cm ở Nam và >88 cm ở Nữ
• Triglyceride >= 150mg/dl
• HDL-c <40mg/dl ở Nam và < 50mg/dl ở Nữ
• Huyết áp tâm thu >= 130mmHg hoặc huyết áp tâm trương >=85mmHg. 
• Đường huyết đói >=110mg/dl 
=> Bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa là yếu tố nguy cơ cao của bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu( NAFLD)

4. Tiếp cận bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu: chẩn đoán bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu đòi hỏi các tính chất sau

• Bằng chứng nhiễm mỡ ở gan dựa vào hình ảnh học hoặc mô học
• Không sử dụng rượu
• Không có nguyên nhân khác gây nhiễm mỡ ở gan
• Không có nguyên nhân khác gây viêm gan mạn

5. Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm mỡ ở gan

• Đề kháng insulin: béo phì, bất động, rối loạn lipid máu, đái tháo đường 2, tăng huyết áp
• Thuốc: Tamoxifen, Corticosteroids, Amiodarone, Methotrexate , Estrogens Valproic acid, Antiretroviral 
• Dinh dưỡng đường tĩnh mạch gây quá mức Carbohydrate
• Giảm cân nhanh
• Nhiễm trùng: viêm gan siêu vi C, chủ yếu type 3, HIV, AIDS
• Bệnh lý như: buồng trứng đa nang, ngưng thở lúc ngủ do tắc nghẽn, suy giáp, suy tuyến yên và suy sinh dục

Sự hiện diện của nhiễm mỡ gan ở cá nhân mà không có một nguyên nhân của bệnh gan mãn tính, bao gồm cả tiêu thụ rượu quá nhiều, là dấu hiệu của bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD). Mặc dù NAFLD thường liên quan với béo phì, bệnh nhân không béo phì cũng có thể hiện diện với NAFLD ("lean NAFLD ").

Mục tiêu của chúng tôi là xác định các yếu tố độc lập kết hợp với “lean NAFLD”  trong dân số Hoa Kỳ. Với mục đích này, chúng tôi sử dụng dữ liệu từ y tế quốc gia và thi khảo sát dinh dưỡng III (NHANES III) tiến hành từ năm 1988 và năm 1994 với siêu âm gan có sẵn , clinico-nhân khẩu học, và các dữ liệu phòng thí nghiệm. NAFLD được định nghĩa là sự hiện diện của nhiễm mỡ gan vừa và nặng (bằng siêu âm), nếu không sử dụng rượu quá nhiều (> 20 g / d ở nam giới và 10 g / d ở phụ nữ), HbsAg (-), và HCV (-).

Viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH) đã được xác định là có nhiễm mỡ vừa phải, nặng và aminotransferase cao trong sự hiện diện của bệnh tiểu đường loại 2 hoặc kháng insulin (IR). Mô hình hồi quy logistic đã được sử dụng để xác định các yếu tố dự báo độc lập của “lean NAFLD” . Kết quả là,tổng số người tham gia bao gồm 11.613 , trong đó 2185 (18,77% ± 0,76%) có NAFLD; trong số này, 307 (11,78% ± 1,03%) có NASH. Phân tích đa biến cho thấy “lean NAFLD”  liên quan độc lập với tuổi trẻ, tình dục nữ, và một khả năng giảm của việc có IR và tăng cholesterol máu (giá trị p <0,05).

Ngoài ra, phân tích đa biến cho thấy rằng NASH thường gặp ở độ tuổi trẻ và có thành phần của hội chứng chuyển hóa như tăng huyết áp (p giá trị <0,05). Do đó, chúng tôi kết luận rằng các cá nhân gầy mắc NAFLD có một hồ sơ lâm sàng khác nhau hơn so với cá nhân thừa cân béo phì với NAFLD. Hơn nữa, bệnh nhân bị NASH thường là người dân Mỹ La Tinh và thường có các thành phần của hội chứng chuyển hóa.

 Câu 2: Đánh giá sỏi trên bệnh nhân này?

Stone burden:  Sỏi thận (P) = 10*33*π*0,25=259,05

    Sỏi niệu quản (T) = 8*13*π*0,25 + 10*15*π*0,25=78,364+117,75=196,114

Stone Burden = 455,164

Predisposing factor:  Uống nước ít # 1000ml/ngày.

                                  Ít vận động, ngồi nhiều

                                  Thích ăn mặn

Underlying disease: Tăng huyết áp cách đây 3 tháng

Option: Ưu tiên xử trí sỏi ở niệu quản (T) bằng nội soi qua hông lưng lấy hết 2 viên sỏi, nhất là trường hợp sỏi to và cứng và tỷ lệ thành công cao

Phần sỏi san hô phức tạp bên thận (P): mổ mở lấy hết sỏi.

 

Nguồn:

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23117851

https://en.wikipedia.org/wiki/Fatty_liver

https://www.facebook.com/Noikhoayduoc/posts/786750844785775?fref=nf&pnref=story

 

 

Đăng bởi: ycantho - Ngày đăng: 02/03/2020
 1  2 
Sản Ngoại - Thủ thuật - Mổ Bệnh học nội - Phác đồ Nhi Ngoại ngữ Đọc giúp bạn Vui để học Basic sciences Đề thi Ghi danh AVYKDiễn đàn Y Cần ThơQuyên Góp

Số lượt truy cập
34.203.777
55 người đang xem


replica rolex