kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Ðề tài: Pacemaker

  1. #1
    Junior Member

    Tham gia ngày
    Oct 2011
    Bài gởi
    9

    Default Pacemaker

    Chủ Đề: Default Pacemaker

    ►Lượt Xem: 8249 ►Trả Lời: 2
    ►Chia Sẽ:
    ►Ngày Gửi: 12-11-11 ►Đánh Giá: Sao

    NHỊP TIM CHẬM VÀ MÁY TẠO NHỊP TIM

    A. NHỊP TIM

    I. Sinh lý tạo nhịp của tim:
    Tim là một cơ quan có 4 buồng ( 2 tâm nhĩ ở trên, 2 tâm thất ở dưới) có chức năng bơm máu. Tâm nhĩ (P) nhận máu tĩnh mạch (máu nghèo oxy) từ cơ thể và bơm vào tâm thất (P). Tâm thất (P) bơm máu nghèo O2 đến phổi để nhận O2. Máu giàu O2 sẽ từ phổi đi đến tâm nhĩ (T) và được bơm xuống tâm thất (T). Tâm thất (T) sẽ phân phối máu giàu O2 đến các phần còn lại của cơ thể. Ngoài O2, máu còn chuyên chở các chất dinh dưỡng (glucose, các chất điện giải v.v...) đến các cơ quan trong cơ thể. Để giữ cho cơ thể được khỏe mạnh, tim cần phải giữ vững nhịp đập thích hợp để phân phối đủ O2 và chất dinh dưỡng từ tâm thất (T) đến cơ thể.
    Nhịp tim bình thường được điều khiển bởi những tín hiệu điện được hình thành từ nút xoang nhĩ (nằm ở thành tâm nhĩ phải). Những tín hiệu điện từ nút xoang nhĩ sẽ đi dọc theo dải mô dẫn đặc biệt trên thành tâm nhĩ làm cho các cơ của tâm nhĩ co và bóp. Những tín hiệu điện tương tự sẽ đi đến nút nhĩ thất, sau đó sẽ đi dọc theo các mô dẫn đặc biệt để đến thành của các tâm thất làm cho tâm thất bóp.
    Bình thường, tim có thể điều chỉnh lượng máu phân phối đến cơ thể bằng cách điều chỉnh tần số tín hiệu điện từ nút xoang nhĩ. Khi cơ thể đang nghỉ ngơi và mức độ tiêu thụ O2 thấp, tần số hình thành tín hiệu của nút xoang nhĩ giảm đi, do đó nhịp tim cũng giảm. Khi đang tập luyện hoặc đang phấn khích, tần số hình thành tín hiệu của nút xoang nhĩ tăng và do đó nhịp tim cũng tăng theo.
    II. Nguyên nhân gây chậm nhịp tim:
    Nhịp tim chậm bất thường có thể là do một bệnh nào đó ảnh hưởng đến nút xoang nhĩ, lớp mô dẫn và nút nhĩ thất.
    - Hội chứng suy nút xoang ( choáng váng, lú lẫn, mệt, ngất và suy tim ứ huyết) là bệnh mà nút xoang không thể phát ra tín hiệu với tần số đủ để duy trì nhịp tim thích hợp. Biểu hiện bằng nhịp xoang chậm rõ, Block xoang nhĩ hay ngừng xoang trên ECG.
    - Rối loạn dẫn truyền nhĩ thất: block AV, bệnh Lenegre.
    - Phân ly nhĩ thất.
    - Một số thuốc cũng có khả năng gây chậm nhịp tim: thuốc chẹn kênh canxi như verapamil và thuốc chẹn β như propanolol (Inderal) và digoxin (Lanoxin). Những loại thuốc này cũng làm trầm trọng thêm tình trạng của những bệnh nhân đã bị bệnh từ trước ở nút xoang nhĩ, nút nhĩ thất và những phần còn lại của hệ dẫn truyền của tim.
    Nguyên nhân gây chậm nhịp tim thường gặp nhất là sự thoái hóa của hệ thống dẫn truyền do tác động của tuổi tác. Do đó, người ta càng cần có máy tạo nhịp hơn khi lớn tuổi, vừa có thể là do tác động của tuổi tác vừa có thể là do những bệnh nhân lớn tuổi thường có nhiều vấn đề về sức khỏe có thể gây chậm nhịp tim hơn.
    III. Điều gì xảy ra khi tim đập quá chậm?
    Khi tim đập quá chậm, máu đến các cơ quan trong cơ thể không đủ. Sự cung cấp thiếu O2 và chất dinh dưỡng có thể dẫn đến sự trục trặc hoặc suy các cơ quan: hưởng nhiều nhất là não (chóng mặt, hay quên, mất ý thức), cơ (mệt mỏi, khó chịu), giảm cung cấp máu cho những cơ quan khác có thể dẫn đến suy tim, thận và gan. Do chậm nhịp tim có thể gây ra nhiều triệu chứng và/hoặc suy cơ quan nên việc điều trị trở nên rất cần thiết.
    Những vận động viên luyện tập nặng với hệ tim mạch khỏe mạnh có thể phân phối O2 và chất dinh dưỡng cho nhu cầu của cơ thể chỉ với nhịp tim rất chậm. Họ thường bị nhịp chậm bất thường nhưng không có triệu chứng nào cũng như không bị suy cơ quan. Khi đó nhịp tim chậm trở thành sinh lý bình thường và không cần phải điều trị.
    IV. Làm gì khi nhịp tim chậm? Phải tăng nhịp tim.
    Không có thuốc ở dạng uống có thể dùng đều đặn nhằm tăng nhịp tim. Hiện tại, chỉ có một cách duy nhất làm tăng nhịp tim kéo dài là dùng máy tạo nhịp để gửi tín hiệu điện đến kích thích tim.

  2. #2
    Junior Member

    Tham gia ngày
    Oct 2011
    Bài gởi
    9

    Default Pacermaker


    B. MÁY TẠO NHỊP TIM
    pacemaker.jpg
    I. Máy tạo nhịp:
    Máy tạo nhịp là một thiết bị điện tử dùng để điều trị những bệnh nhân có những triệu chứng gây ra do nhịp tim chậm bất thường. Máy tạo nhịp có khả năng giữ nhịp cho tim bệnh nhân.
    Nếu tim đập quá chậm, máy tạo nhịp sẽ tạo ra một tín hiệu điện tương tự như tín hiệu tự nhiên của tim làm cho tim đập nhanh hơn. Mục đích của máy tạo nhịp là giữ nhịp tim để cung cấp đủ oxy và chất dinh dưỡng qua máu đến các cơ quan trong cơ thể.
    Máy tạo nhịp tạm thời thường được sử dụng đầu tiên, đặc biệt là ở những trường hợp nghĩ nhịp tim chậm tạm thời và gây ra bởi những nguyên nhân có thể điều trị hoặc phục hồi được. Máy tạo nhịp tạm thời được đặt ở bên ngoài cơ thể và có thể dùng nguồn điện bên ngoài. Máy tạo nhịp tạm thời có thể tháo bỏ ra một cách dễ dàng nếu nhịp tim trở về bình thường.
    Máy tạo nhịp vĩnh viễn cần thiết ở những bệnh nhân bị chậm nhịp tim mạn tính hoặc do những nguyên nhân không thể phục hồi được.
    II. Cấu tạo của máy tạo nhịp:
    biotronik.jpg
    Hình: máy tạo nhịp tim Biotronik.

    Máy tạo nhịp vĩnh viễn có 2 phần: buồng máy và các điện cực. Buồng máy chứa thiết bị ghi thời gian để chỉnh tần số của máy, vòng phát hiện tín hiệu điện từ tim và pin.
    Những dây dẫn truyền tín hiệu điện từ tim đến máy thường được làm bằng platinum và được phủ bên ngoài bằng silicone hoặc polyurethane. Các dây được bọc lại này được gọi là các điện cực. Điện cực sẽ được đặt vào tim qua tĩnh mạch trong ngực. Đầu điện cực được đặt tiếp xúc với thành trong của tâm nhĩ phải hoặc tâm thất phải, đầu còn lại nối với buồng máy. Các điện cực này an toàn và thường không gây tổn thương hay nhiễm trùng tim và các tĩnh mạch.
    III. Những loại máy tạo nhịp:
    Máy tạo nhịp có thể có một hoặc nhiều điện cực. Máy tạo nhịp đơn buồng có 1 điện cực, máy tạo nhịp buồng đôi có 2 điện cực.
    1. Máy tạo nhịp đơn buồng: điện cực của máy tạo nhịp đơn buồng được đặt vào tâm thất và máy có thể nhận được tín hiệu và tạo nhịp cho tâm thất. Nếu điện cực được đặt ở tâm nhĩ, máy tạo nhịp có thể nhận tín hiệu và tạo nhịp cho tâm nhĩ. Tùy thuộc vào nguyên nhân và tính chất của triệu chứng chậm nhịp tim mà quyết định đặt điện cực ở đâu.
    2. Máy tạo nhịp buồng đôi (có 2 điện cực): một đặt ở tâm nhĩ và một đặt ở tâm thất. Máy tạo nhịp 2 buồng phức tạp và rắc rối hơn máy tạo nhịp đơn buồng. Nó có thể nhận tín hiệu và tạo nhịp ở cả tâm thất lẫn tâm nhĩ. Nó cũng có thể phối hợp tín hiệu và sự co bóp từ tâm nhĩ lẫn tâm thất để giúp tim đập hiệu quả hơn.
    Trong chu kỳ co bóp bình thường của một quả tim bình thường, tâm nhĩ co trước để tống máu xuống tâm thất. Sau đó tâm thất mới co sau một khoảng thời gian ngắn. Máy tạo nhịp hai buồng có thể phối hợp tín hiệu điện đến tâm nhĩ và tâm thất để chúng có thể co bóp được theo chu kỳ tự nhiên. Nếu co bóp theo chu kỳ tự nhiên sẽ có thể cải thiện được hiệu quả bơm của tim.
    Máy tạo nhịp hai buồng dễ gặp trục trặc hơn do nó có độ phức tạp cao hơn. Những máy tạo nhịp này có thể làm cho tim đập với nhịp không phù hợp nếu tim bị lẫn lộn bởi những tín hiệu điện của chính nó. Ngoài ra, thêm một điện cực cũng có nghĩa là thêm một thiết bị nữa có khả năng hư hỏng. Do đó, không phải bệnh nhân nào cũng hội đủ điều kiện để đặt máy tạo nhịp hai buồng. Một số bệnh nhân nhận được tiện ích nhiều hơn khi sử dụng máy tạo nhịp đơn buồng. Chỉ có bác sĩ tim mạch là người quyết định xem loại máy tạo nhịp nào là thích hợp nhất cho bệnh nhân.
    2.jpg
    Hình : Máy tạo nhịp với hai dây điện cực ở nhĩ và thất phải
    3.gif
    Hình: Tạo nhịp hai buồng tim phải.
    xung (màu xanh) phát ra ở đầu điện cực trước khi nhĩ và trước khi thất co bóp.

    Các máy tạo nhịp tim được chia ra nhiều loại với những ký hiệu NASPE/BPEG khác nhau: VVI, VVIR, VDDR, DDD, DDDR, AAI, AAIR. Chữ đầu dùng để chỉ buồng tim được kích thích: tâm thất dùng chữ V (Ventricle), tâm nhĩ dùng chữ A (Atrium), cả hai thì dùng chữ D (Dual), O: không có. Chữ thứ nhì dùng để chỉ máy sẽ nhận cảm ở buồng nào: V, A, D, O.. Chữ thứ ba là: I (Inhibited) nếu có kích thích tự nhiên thì không kích thích, D (dual) như I và dùng tâm nhĩ làm chủ. Chữ thứ tư là chữ R (rate adaptive) để chỉ loại máy có nhịp thích ứng.
    Bảng I: các ký hiệu NASPE/BPEG.
    các ký hiệu máy tạo nhịp.jpg
    Các máy thường được ghi là SSI, SSIR, DDD, DDDR, SLR. SS có nghĩa là máy chỉ có thể kích thích và nhận cảm một buồng, nhĩ hoặc thất, tùy bác sĩ cấy dây điện cực vào buồng nào của tim phải. SL viết tắt cho Single Lead, chỉ dùng một dây điện cực. Đây là loại máy VDD dùng với loại dây điện cực đặc biệt có thể tạo nhịp ở thất và nhận cảm ở cả hai buồng. Các máy hai buồng có thể lập trình xuống cấp được, nghĩa là máy DDD có thể dùng theo phương cách VVI, AAI, VDD được. Lý do máy hai buồng được ghi là DDD vì máy sau khi nhận cảm nhịp nội tại ở nhĩ, sẽ ức chế tạo nhịp ở nhĩ (chữ I), sau đó sẽ bắt đầu một thời gian sẽ đưa đến tạo nhịp ở thất (trigger – chữ T). Tuy nhiên nếu nhận cảm được nhịp nội tại ở thất, thì máy sẽ ức chế tạo nhịp ở thất (chữ I). Vì máy dùng cả hai chức năng I và T nên ký hiệu đáp ứng là D. Với phương thức DDD, nhĩ là chủ, nghĩa là các chu kỳ thời gian bắt đầu ở nhĩ, nhận cảm hay tạo nhịp. Các máy còn có thể lập trình để hoạt động theo phương cách DDI. Với DDI, thất là chủ. Các chu kỳ thời gian bắt đầu ở thất. Phương thức DDI dùng khi tim bị rung nhĩ, nên vô hiệu hoá các tín hiệu ở nhĩ. Máy có thể tạo nhịp ở nhĩ, nếu trong chu kỳ không nhận cảm được do các sóng ở nhĩ quá thấp.
    Các loại máy hai buồng DDD, DDDR, VDDR, nhờ phối hợp co bóp cả hai buồng tim nên hữu hiệu hơn loại máy một buồng VVI/VVIR. Loại máy VDDR thích hợp cho những người bệnh với nút xoang tốt nhưng bị blốc ở nút nhĩ thất hay ngay dưới ở bó His. Nhờ chức năng nhịp thích ứng, trong trường hợp rung nhĩ và máy không còn dùng nhịp nhĩ được, máy có thể thay đổi nhịp khi người bệnh hoạt động. Loại máy DDD thích hợp cho người bệnh với nút xoang tốt và bị blốc ở nút nhĩ-thất hay dưới đó, hoặc với người bệnh bị suy nút xoang. Tuy nhiên trong trường hợp sau, nhịp sẽ không thay đổi được. Loại máy DDDR thích hợp cho tất cả các trường hợp nhịp chậm. Tuy nhiên, với người bệnh cao niên hay sức khỏe kém, bác sĩ thường chỉ định loại máy một buồng để rút ngắn thời gian cấy máy, hoặc ngăn ngừa những biến chứng có thể xẩy ra về sau ... như dây nhĩ bị bật khỏi vị trí ban đầu.
    Theo các nghiên cứu mới, các máy hai buồng cần dùng nhịp nội tại thất tối đa thay vì tạo nhịp ở thất, hầu giảm hiểm họa rung nhĩ và suy tim. Các máy hai buồng Biotronik (VDDR, DDD, DDDR) có chức năng thời gian nhĩ-thất trễ (AV hysteresis) để tận dụng nhịp nội tại, và các phương thức tìm kiếm nhịp nội tại ở thất như AV repetitive hysteresis (trong một vài chu kỳ sau khi mất nhịp nội tại, cố gắng tiếp tục tìm nhịp nội tại), AV scan hysteresis (sau khi tạo nhip 180 chu kỳ liên tục, trong một vài chu kỳ sẽ cố gắng kiếm nhịp nội tại)...

  3. #3
    Junior Member

    Tham gia ngày
    Oct 2011
    Bài gởi
    9

    Default


    IV. Cấy máy tạo nhịp
    - Vị trí cấy: thông thường là ở phần ngực phía trên bên trái hoặc phải gần xương đòn.
    - Gây tê cục bộ bằng đường tiêm dưới da ở khu vực mà máy sẽ được cấy vào, rạch một đường nhỏ ở cùng khu vực đó để tạo một khoảng trống nhỏ. Sau đó đưa điện cực vào tĩnh mạch ở phía ngực trên gần xương đòn. Điện cực sẽ được đưa đến tâm nhĩ phải hoặc tâm thất phải dưới sự hướng dẫn của X quang. Đầu điện cực sau đó sẽ được gắn vào mặt trong của tim bằng một vài mũi khâu nhỏ. Nếu có nhiều hơn 1 điện cực thì tiến trình này sẽ lặp đi lặp lại nhiều lần. Do không có đầu tận cùng của dây thần kinh nào nằm phía trong các mạch máu và tim nên bệnh nhân thường sẽ không cảm nhận thấy các điện cực được đặt bên trong nó.
    - Đầu còn lại của điện cực sau đó sẽ được nối với buồng máy thường được đặt dưới da. Sau đó khâu da lại và kết thúc thủ thuật.
    - Đôi khi điện cực được đặt ở mặt ngoài của tim. Nếu điện cực được đặt theo cách này, thành ngực sẽ được phẫu thuật mở ra. Các điện cực được đặt ở bề mặt tim và buồng máy được cấy dưới da vùng bụng trên. Do cách cấy này khó hơn và đòi hỏi phẫu thuật rộng hơn nên nó chỉ được dùng khi không thể đặt điện cực vào bên trong tim thông qua các mạch máu được. Những trường hợp này thường gặp ở những trẻ quá nhỏ nên không để đưa điện cực vào mạch máu được hoặc ở những bệnh nhân lớn nhưng có bệnh tim bẩm sinh. Ngoài ra, khi trẻ lớn lên, khoảng cách giữa máy tạo nhịp và tim gia tăng, do đó điện cực giữa tim và buồng máy sẽ trở nên quá ngắn.





    Những biến chứng có thể gặp do cấy máy tạo nhịp:

    - Tỷ lệ tử vong do biến chứng trực tiếp của thủ thuật này ít hơn 1/10.000 trường hợp được cấy.
    - Các biến chứng xảy ra ít hơn 1%, bao gồm chảy máu, tổn thương, và nhiễm trùng vùng cấy, tràn khí vào khoang trống nằm giữa phổi và thành ngực (cần phải đặt ống ngực dẫn lưu), thủng tim (cần phải dẫn lưu cấp cứu máu ra khỏi túi bao quanh tim), đột quỵ, cơn đau tim cấp và tổn thương mạch máu.

    Chăm sóc sau đặt máy tạo nhịp
    - Bình thường bệnh nhân sẽ đau ở khu vực cấy máy tạo nhịp trong khoảng một tuần hoặc hơn sau khi cấy do đó cần cho thuốc giảm đau.
    - Có thể thực hiện gần như tất cả các hoạt động bình thường hằng ngày. Trong vòng một tuần đầu sau phẫu thuật, yêu cầu bệnh nhân không nâng tay ở phía bên cấy máy cao quá đầu để ngăn không cho các điện cực bị lệch khỏi vị trí và giúp cho chúng trở nên vững chắc và an toàn bên trong tim. Tránh nâng vật nặng, không chơi những môn thể thao tiếp xúc và những bài tập thể dục nặng trong vòng vài tuần.
    - Cắt chỉ khâu ở vùng rạch da vào khoảng giữa tuần đầu tiên đến tuần thứ 2 sau phẫu thuật thông thường tại phòng khám hoặc ở các trung tâm.
    - Bệnh nhân có thể quay trở lại làm việc trong vòng 1 hay 2 tuần mặc dù vết mổ có thể phải mất đến 6,7 tuần mới lành lặn hoàn toàn.
    - Cung cấp thẻ ID của máy tạo nhịp có chứa những thông tin của máy cho bệnh nhân.
    - Bệnh nhân cần báo cho bác sĩ hoặc đến khám ngay khi có các biểu hiện:
    + Trong vòng 1 hay 2 tuần đầu sau khi cấy, những triệu chứng như sốt, đau trên mức bình thường, đỏ và sưng, nóng ở vùng cấy máy cùng với dịch chảy ra từ đó có thể là dấu hiệu nhiễm trùng.
    + Nếu những triệu chứng như mệt mỏi, chóng mặt hoặc bất kỳ triệu chứng nào mà bệnh nhân cảm nhận được trước khi cấy máy bây giờ quay trở lại có thể là biểu hiện cho thấy máy đã bị trục trặc. Những triệu chứng khác có thể có liên quan đến sự hỏng hóc của máy bao gồm co giật cơ, tim đập nhanh, thình thịch và thở gấp.

    V. Các nguồn điện và máy tạo nhịp:
    - Những nguồn điện bên ngoài an toàn: những máy tạo nhịp hiện đại được bảo vệ tốt đối với hầu hết những thiết bị điện gia dụng trong tình trạng còn tốt như radio, TV, loa, lò vi sóng, máy hút bụi v.v...
    - Những nguồn điện có thể gây nhiễu máy tạo nhịp:
    + Máy cộng hưởng từ (MRI): những bệnh nhân được đặt máy tạo nhịp không nên chụp MRI.
    - Điện thoại di động: nên nghe di động ở bên tai đối diện với máy tạo nhịp. Không để di động ở túi gần kế ngực.
    - Thiết bị chống trộm ở một số cửa hàng: bệnh nhân mang máy tạo nhịp cần bước qua cửa một cách nhanh chóng mà không đứng lại ở tại cửa hoặc gần cửa.
    - Máy dò kim loại tại sân bay: cần trình thẻ ID của máy cho nhân viên an ninh và bước vòng qua cổng.
    - Những thiết bị điện công xuất nặng như máy hàn, động cơ xe hơi đang chạy và một số dụng cụ phẫu thuật chạy bằng điện có thể gây nhiễu cho máy.

    VI. Khi nào nên thay pin:
    Điện cực và pin của máy tạo nhịp ngày càng hiệu quả hơn do đó tuổi thọ của pin cũng tiếp tục tăng ngay cả khi kích thước của máy ngày càng nhỏ.
    Pin của máy tạo nhịp hiện đại ngày nay thường có thể kéo dài đến 7-10 năm. Do pin được dán vào bên trong buồng máy nên thay pin cũng đồng nghĩa với thay cả buồng máy.

    VII. Những tính năng mới của máy tạo nhịp:
    Những tiến bộ trong kỹ thuật chế tạo máy tạo nhịp đã thêm vào đó nhiều tính năng mới, trong đó bao gồm:

    - Khả năng ghi nhận tần số điện tự nhiên của tim. Một số bệnh nhân cảm thấy có những triệu chứng xuất hiện một cách không liên tục ngay cả sau khi được cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn. Những triệu chứng này có thể là do có những giai đoạn nhịp tim nhanh bất thường (vd như rung nhĩ). Ghi nhận nhịp tim giúp bác sĩ xác định được nhịp tim bất thường có phải là thủ phạm gây ra những triệu chứng của bệnh nhân hay không.
    - Máy tạo nhịp cũng có thể được dùng để ngăn ngừa tái phát những giai đoạn nhịp tim nhanh như khi bị rung nhĩ. Những máy tạo nhịp này sẽ được trang bị với nhiều điện cực cấy vào tâm nhĩ. Những điện cực này kiểm soát hoạt động điện của tâm nhĩ và ngăn rung nhĩ.

    Tham khảo:
    http://giangduongykhoa.net/ngoai-kho...acemaker-.html
    http://tamthuvn.com/PM.html


Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Trang Chủ YCanTho Copyright © 2012-2013 Diễn đàn YCantho
S2 ĐỂ BLOUSE MÃI TRẮNG
Vui lòng trích dẫn "www.ycantho.com" khi bạn phát hành thông tin từ Ycantho.
Múi giờ GMT. Hiện tại là 07:34 PM.