kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Ðề tài: Bệnh học ung thư cổ tử cung xâm lấn

  1. #1
    nguyenduy
    Guest

    Post Bệnh học ung thư cổ tử cung xâm lấn

    Chủ Đề: Post Bệnh học ung thư cổ tử cung xâm lấn

    ►Lượt Xem: 9064 ►Trả Lời: 2
    ►Chia Sẽ:
    ►Ngày Gửi: 07-11-11 ►Đánh Giá: 5Sao

    UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
    1. DỊCH TỄ HỌC.
    Ung thư cổ tử cung (CTC) là bệnh ác tính thường gặp nhất ở đường sinh dục nữ, đứng thứ 2 sau ung thư vú. Hàng năm toàn thế giới có khoảng 500.000 phụ nữ bị ung thư CTC xâm lấn mới mắc, tần suất bệnh là 20/100.000 dân mỗi năm. Tại Việt Nam chưa có số liệu thống kê chung cả nước nhưng theo thống kê năm 2000 cho thấy tỷ lệ mắc ung thư CTC ở Hà Nội là 6,8/100.000 dân (theo thống kê của bệnh viện K) và ở TP HCM tỷ lệ mắc cao hơn là 26/100.000 dân.
    Quá trình sinh bệnh học thường dài và trải qua những giai đoạn của khối u trong biểu mô, CIN1, CIN2, CIN3, tiếp sau đó là ung thư xâm lấn giai đoạn IA. Quá trình này biến đổi trong nhiều năm, phải mất 7-10 năm sau nhiễm HPV kéo dài mới đưa đến tăng sinh trong biểu mô và từ 14-20 năm sau thì tăng sinh trong biểu mô mới diễn tiến thành ung thư. Nên bệnh thường gặp ở phụ nữ lớn tuổi, tuổi trung bình là 45-55.
    2. NGUYÊN NHÂN
    Nguyên nhân gây ung thư CTC ngày nay phải đề cập đến là nhiễm HPV, đặc biệt là type 16, 18, 31 và 41 gây ung thư CTC với tỷ lệ cao, gen gây ung thư E6, E7 của HPV gặp trong vùng biến đổi ác tính chiếm tỷ lệ 90% của ung thư CTC. Ngoài ra, các yếu tố thuận lợi như:
    - Giao hợp sớm.
    - Người phụ nữ có nhiều bạn tình.
    - Quan hệ tình dục với đàn ông có bạn tình bị ung thư CTC.
    - Gái mại dâm (tỷ lệ mắc ung thư CTC cao gấp 4 lần so với phụ nữ không sinh đẻ).
    - Nhiễm Herpes simplex.
    - Suy giảm miễn dịch (HIV/AIDS).
    3. MÔ BỆNH HỌC
    Ung thư CTC là một quá trình tiến triển chậm, 70-80% là ung thư biểu mô vảy (Epidermoid carcinoma), số còn lại là ung thư tuyến (Endometrioid adenocarcinoma), ung thư hỗn hợp giữa tuyến và biểu mô vảy (Adenosquamous carcinoma).
    4. SỰ LAN TRÀN
    Khối u bắt đầu lồi lên trong âm đạo gồm một ít tế bào đệm CTC hoặc lõm vào làm tử cung phì đại nhưng không nhìn thấy khối u. Khối u có thể di căn vào dây chằng rộng, túi cùng bên và bàng quang, niệu quản gây tắc niệu quản ở phía khối u chèn ép, hạch lympho, xâm lấn trực tràng ít gặp hơn.
    - Lan theo hệ bạch huyết: hạch vùng chậu, cạnh động mạch chủ.
    - Lan theo đường máu: gan, phổi
    - Lan theo đường phúc mạc: khi đã có di căn vào phúc mạc thì tiên lượng rất xấu.
    5. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
    5.1. Triệu chứng cơ năng
    Ở giai đoạn sớm hay giai đoạn Ib thường không có triệu chứng, phát hiện bệnh nhờ vào sàn lọc tế bào học. Giai đoạn nặng hơn giai đoạn I thì CTC có kích thước lớn hơn, bề mặt sùi, xuất huyết giữa kỳ kinh hoặc sau giao hợp, ra khí hư hôi lẫn máu. Khi khối u lớn và hoại tử hoặc đã di căn tới thành chậu, bàng quang, niệu quản, trực tràng thì các triệu chứng nặng hơn, có thể gây chèn ép và đau ở vùng thắt lưng hoặc đau thần kinh tọa.
    Khi ung thư xâm lấn vào bàng quang gây đái máu, xâm lấn trực tràng ít có triệu chứng, nếu có thì biểu hiện đi tiêu có máu và nhày mủ.
    Triệu chứng cơ năng theo giai đoạn:
    - IA: không có triệu chứng.
    - IB, II: ra huyết bất thường hoặc ra khi hư.
    - III, IV: đau lưng, phù chân do tắt mạch bạnh huyết, rối loạn chức năng trực tràng, nước tiểu có máu, đi tiểu khó.
    5.2. Khám lâm sàng
    5.2.1. Khám tổng quát:
    - Cân nặng và mức đô sụt cân.
    - Màu sắc da niêm.
    - Hạch thương tổn có to hay không, có hạch bẹn sưng to: chân phù, giãn tỉnh mạch chân.
    5.2.2. Khám phụ khoa:
    - Quan sát âm hộ và cơ quan sinh dục ngoài tìm dấu hiệu nhiễm HPV. Khi khối u tiến triển, âm hộ và âm đạo ẩm ướt, có máu.
    - Đặt mỏ vịt nhẹ nhàng tránh làm sang chấn CTC, dùng mỏ vịt tối màu để quan sát thương tổn rõ hơn:
    + Xem hình dạng và đo kích thước CTC.
    + Đo kích thước khối u để phân biệt giai đoạn.
    - Kiểm tra qua đường trực tràng: để đánh giá khối u xâm lấn vào bàng quang, trực tràng thành chậu hông.
    - Khám lâm sàng là phương pháp biết sớm những dấu hiệu của bệnh, nhưng để chẩn đoán xác định cần phải soi CTC và bấm sinh thiết.
    5.3. Phân chia giai đoạn lâm sàng:
    Chẩn đoán giai đoạn dựa trên cơ sở những dấu hiệu sờ thấy và một số xét nghiệm chẩn đoán, tình trạng hạch là yếu tố tiên lượng quan trọng.

    Bảng phân chia giai đoạn lâm sàng của FIGO 1994



    Ảnh minh họa



    6. CẬN LÂM SÀNG
    6.1. Phết tế bào âm đạo - cổ tử cung (PAP smear): Giúp phát hiện các thay đổi ở mức độ tế bào theo hướng tiền ung thư hoặc ung thư. Trong ung thư xâm lấn thường gặp tế bào PIV, PV đôi khi có thể cho kết quả âm tính giả khoảng 6% vì một số lớn tế bào viêm hoặc tế bào chết có thể làm sai lệch kết quả do đó phải làm lại xét nghiệm nếu nghi ngờ.
    6.2. Soi CTC: hình ảnh soi CTC có thể thấy trong ung thư xâm lấn giai đoạn sớm là mạch máu không bình thường, các mạch máu xoắn nút chai, ngoằn ngoèo.
    6.3. Sinh thiết: bất kỳ một nghi ngờ nào cũng cần phải sinh thiết lấy bệnh phẩm để chẩn đoán như: vùng iod âm tính, tổ chức loét, nụ sùi, hạch, tổn thương mao mạch đôi khi phải khoét chóp hoặc nạo ống CTC khi kết quả tế bào vẫn còn nghi ngờ. Đây là phương pháp tốt nhất để chẩn đoán ung thư CTC.
    6.4. Xquang, CT scan: chụp phổi, chụp bạch mạch, hạch cạnh động mạch chủ để tìm di căn. Chụp thận (UIV) để đánh giá sự tiến triển của ung thư gây tắt nghẽn đường tiết niệu.
    6.5. Soi trực tràng bàng quang để phát hiện ung thư xâm lấn trực tràng, bàng quang. Ngoài ra chụp MRI để xác định khối u ban đầu.
    7. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
    - Ra máu: cần phân biệt với các nguyên nhân ra máu khác như giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu, u nguyên bào nuôi, lao CTC, polype CTC, nhiễm khuẩn CTC.
    - Ra khí hư: phân biệt với lộ tuyến tử cung, sùi mào gà, loét do các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
    8. ĐIỀU TRỊ
    Dựa vào giai đoạn lâm sàng và tình trạng bệnh nhân để quyết định.
    8.1. Giai đoạn IA: xâm lấn vi thể
    Cắt tử cung hoàn toàn để lại 2 phần phụ kết quả 100% khỏi cho những bệnh nhân trẻ có tổn thương xâm lấn không quá 3 mm. Có thể khoét chóp nếu bệnh nhân mong muốn duy trì chức năng sinh sản. Kết quả phẫu thuật bảo tồn và phẫu thuật triệt để là như nhau trong giai đoạn IA.
    8.2. Giai đoạn IB và IIA
    Ở những giai đoạn này có thể kết hợp phẫu thuật triệt để và tia xạ hay hóa xạ trị. Trong khi phẫu thuật mà thấy hạch thì tiến hành cắt lạnh hạch để phát hiện hạch có bị di căn hay không. Nếu khẳng định là hạch đã bị di căn thì hóa xạ trị sau phẫu thuật, hạch âm tính nhưng có nhiều yếu tố nguy cơ cao thì điều trị tia xạ sau phẫu thuật và có thể kết hợp với hóa xạ trị.
    Trong điều kiện chưa phẫu phẫu thuật triệt để như lấy hạch cạnh động mạch chủ thì cần tia xạ tiền phẫu, sau đó mổ Wertheim cắt tử cung hoàn toàn và 2 phần phụ, lấy tổ chức hạch, tổ chức liên kết ở trên và dưới niệu đạo, hạch động mạch chậu gốc, cắt 1/3 âm đạo trên.
    8.3. Giai đoạn IIB và III
    Bệnh nhân với bệnh khu trú tại chỗ thì điều trị hóa chất kết hợp tia xạ tốt hơn xạ trị đơn thuần hoặc cắt tử cung phối hợp với tia xạ.
     Chỉ định và chống chỉ định phẫu thuật
    Quyết định mổ hay không tùy thuộc chủ yếu vào kích thước khối u, kết quả phân loại giai đoạn trước phẫu thuật và tình trạng của bệnh nhân.



    9. TIÊN LƯỢNG
    Nếu chẩn đoán sớm ở giai đoạn IA, IB tiên lượng tốt. Yếu tố tiên lượng phụ thuộc vào:
    - Giai đoạn lâm sàng và hình thái mô bệnh học.
    - Tuổi.
    - Di căn hạch.
    10. UNG THƯ CỔ TỬ CUNG TÁI PHÁT
    Tái phát có thể xảy ra ở tiểu khung hay ở mõm cắt âm đạo, trên thành chậu.
    - Triệu chứng: khối u tái phát <1cm thì không có triệu chứng. Khi kích thước gia tăng có thể gặp: ra khí hư lẫn máu hoặc chảy máu khi khám, tiểu tiện khó khăn, đau vùng tiểu khung và lan xuống chân, triệu chứng ở phổi nếu có di căn phổi.
    - Chẩn đoán: khám phụ khoa kết hợp soi CTC, siêu âm, CT scan.
    - Điều trị: nếu tái phát ở mỏm cắt âm đạo thì mổ lại kết hợp hóa xạ trị.
    Đối với trường hợp không xạ trị trước đó thì cho điều trị thử xạ trị, nếu đã có xạ trị trước đó thì không được xạ trị tiếp mà nên kết hợp với hóa trị liệu đơn hoặc đa hóa chất.
    11. UNG THƯ CỔ TỬ CUNG TRONG KHI MANG THAI
    Cần sàng lọc trong 3 tháng đầu thai nghén vì bệnh thường mắc phải trong thời kỳ sinh sản. Triệu chứng không có gì khác với ngoài thời kỳ thai nghén, nhưng do triệu chứng chảy máu dễ nhầm với dấu hiệu bất thường của thai nghén nên chẩn đoán chậm, 85% được chẩn đoán là giai đoạn IA và IB. Nếu sinh thiết cho kết quả ung thư (+) thì chỉ định khoét chóp sau tuần thứ 12 và trước tuần thứ 20 của thai kỳ, sau thời gian đó thì để sau đẻ mới giải quyết. Trong trường hợp khẩn cấp cần kích thích phổi thai nhi trưởng thành bằng corticoid và mổ lấy thai rồi tiến hành cắt tử cung triệt để. Trường hợp thai nhi còn quá nhỏ và thai phụ không đồng ý phá thai thì áp dụng điều trị hóa chất.


    Tài liệu tham khảo:
    Bệnh học ung thư phụ khoa 2005, trang 47, PGS.TS. Trần Thị Phương Mai
    Sản bệnh lý, ĐH Y Huế
    thay đổi nội dung bởi: nguyenduy, 10-11-11 lúc 07:37 PM

  2. #2
    playkeyboard
    Guest

    Default


    cảm ơn...
    bài viết có hình minh họa dễ hiểu, bạn ơi cái tựa bị trục trặc kỹ thuật....

  3. #3
    nguyenduy
    Guest

    Default


    Trích Nguyên văn bởi playkeyboard View Post
    cảm ơn...
    bài viết có hình minh họa dễ hiểu, bạn ơi cái tựa bị trục trặc kỹ thuật....
    Cảm ơn bạn, mình đã sửa lại rồi.

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Trang Chủ YCanTho Copyright © 2012-2013 Diễn đàn YCantho
S2 ĐỂ BLOUSE MÃI TRẮNG
Vui lòng trích dẫn "www.ycantho.com" khi bạn phát hành thông tin từ Ycantho.
Múi giờ GMT. Hiện tại là 05:55 PM.