Chấn thương ngực.
1. Gãy xương sườn:
2. Mảng sườn di động:

http://www.ycantho.com/qa/showthread.php?9862-X%E1%BB%AD-tr%C3%AD-g%C3%A3y-x%C6%B0%C6%A1ng-s%C6%B0%E1%BB%9Dn-v%C3%A0-m%E1%BA%A3ng-s%C6%B0%E1%BB%9Dn
3. Gãy xương ức:
a. Đặc điểm
- Gãy xương ức thường là hậu quả của một chấn thương nặng, trực tiếp vào vùng ngực trước.
- 55-70% các trường hợp gãy xương ức có tổn thương phối hợp.
- Tổn thương phối hợp thường gặp nhất là gãy xương sườn.
- Các tổn thương phối hợp khác bao gồm: chấn thương tim (20%), tổn thương khí-phế quản, thực quản, động mạch chủ…

b. Điều trị
- Việc điều trị gãy xương ức thường không hướng trực tiếp vào ổ gãy.
- Nguyên tắc điều trị chủ yếu là giảm đau và xử trí các tổn thương phối hợp.
- Trong trường hợp gãy di lệch nhiều, có chỉ định phẫu thuật cố định trong (khâu chỉ thép và nẹp vít).
- Cố định bằng nẹp vít cho kết quả tốt hơn cố định bằng khâu chỉ thép.

4. Tràn khí màng phổi:
a. Đặc điểm:
- Hầu hết là do đầu xương sườn gãy đâm vào phổi.
- Phổi cũng có thể bị rách, do lực ép hay do giảm tốc, gây tràn khí màng phổi mà không có gãy xương sườn phối hợp.
- Có thể có sự phối hợp giữa tràn khí với tràn máu màng phổi.

b. Chẩn đoán :
Dựa vào các triệu chứng sau:
- Đau ngực, khó thở,
- Giảm âm phế bào và
- Gõ vang bên lồng ngực bị tràn khí.

c. Điều trị:
- Dẫn lưu kín xoang màng phổi được chỉ định cho tất cả các trường hợp tràn khí màng phổi do chấn thương.
- Tràn khí màng phổi áp lực (BN khó thở nặng, tụt huyết áp, tím tái, âm phế bào mất hoàn toàn, tĩnh mạch cổ nổi, khí quản bị đẩy lệch) cần được xử trí khẩn cấp bằng chọc hút khoang màng phổi bằng kim để giải áp trước.

5. Tràn máu màng phổi:

a. Đặc điểm
- Hầu hết có nguồn gốc từ thành ngực (90%), do tổn thương bó mạch vú trong hay liên sườn.
- Trong các trường hợp còn lại, máu chảy từ phổi (rách phổi) hay từ các mạch máu lớn.
- Nguồn gốc từ thành ngực, lượng máu mất thường từ trung bình trở xuống và thường tự cầm máu.
- Tổn thương phổi hay các mạch máu lớn thường gây tràn máu lượng lớn và thường cần phải mở ngực để cầm máu.

b. Triệu chứng:
Tuỳ thuộc vào số lượng máu bị mất có thể có các triệu chứng sau:
- Đau ngực, khó thở,
- Dấu hiệu mất máu (da tái, niêm nhạt, mạch nhanh và huyết áp giảm),
- Âm phế bào giảm và gõ đục bên lồng ngực bị tràn máu.

c. Chẩn đoán xác định:
+ X-quang ngực:
- Trên X-quang ngực, tràn máu màng phổi biểu hiện bằng hình ảnh mờ phần dưới phổi.
- Nếu tràn máu lượng nhiều, có hình ảnh trung thất bị đẩy sang bên đối diện.
- Có khi máu có số lượng đáng kể trong xoang màng phổi mà X-quang ngực vẫn không cho thấy dấu hiệu bất thường.
- X-quang ngực nằm, được chỉ định khi BN có huyết áp thấp, không có giá trị cao trong chẩn đoán tràn máu màng phổi.
- Trên X-quang ngực nằm, tràn máu màng phổi biểu hiện bằng hình ảnh hơi mờ ở ½ lồng ngực bên tổn thương.

+ Siêu âm
- Có giá trị cao trong chẩn đoán tràn máu màng phổi, ngay cả trường hợp tràn máu với lượng ít.

+ Chọc dò khoang màng phổi là một thủ thuật chẩn đoán tràn máu màng phổi được chỉ định khi BN trong tình trạng sốc và không đủ thời gian để thực hiện X-quang hay siêu âm chẩn đoán.

d. Điều trị
+ Hầu hết các trường hợp, việc điều trị chỉ là đặt dẫn lưu kín khoang màng phổi.
+ Mở ngực cầm máu được chỉ định khi máu ra hơn 1500 mL ngay sau khi đặt dẫn lưu, hay ra hơn 200 mL/giờ trong 2-3 giờ sau đó.
+ Máu đông
- Máu đông trong khoang màng phổi cần phải được lấy đi để tránh nguy cơ dày màng phổi hay mủ màng phổi.
- Nghĩ đến máu đông màng phổi khi hình mờ trên X-quang ngực vẫn còn tồn tại sau khi đã đặt dẫn lưu khoang màng phổi.
- Cần chẩn đoán phân biệt hình mờ này với dập phổi hay xẹp phổi.
- CT là phương tiện chẩn đoán hình ảnh được chọn lựa khi nghi ngờ có máu đông màng phổi.
- Hình ảnh máu đông màng phổi trên CT là khối tăng đậm độ, nằm ở vùng thấp và không thay đổi theo tư thế.
- Có thể lấy máu đông màng phổi bằng phẫu thuật nội soi.