Sốt
• Thông thường nhiệt độ cơ thể được kiểm soát bởi một vùng của não có tên là vùng hạ đồi. Hạ đồi tương tự như bộ máy điều nhiệt của cơ thể. Nó giữ cơ thể ở nhiệt độ bình thường qua cơ chế nhiệt (chẳng hạn như rùng mình và quá trình trao đổi chất) và cơ chế lạnh (chẳng hạn như vã mồ hôi và dãn các mạch máu ở gần da).
• Hiện tượng sốt xảy ra khi hệ miễn dịch của cơ thể bị kích thích bởi pyrogen (chất gây sốt). Pyrogen thường bắt nguồn từ bên ngoài cơ thể và kích thích cơ thể sản xuất ra những pyrogen bên trong cơ thể. Pyrogen sẽ ra lệnh cho hạ đồi tăng điểm nhiệt của cơ thể lên. Để đáp ứng lại, cơ thể bắt đầu rùng mình, các mạch máu co lại để cố gắng đạt đến điểm nhiệt mới cao hơn nhiệt độ cơ bản.
• Pyrogen có thể ở bên ngoài cơ thể như:
• Virus
• Vi khuẩn
• Nấm
• Thuốc
• Chất độc
NGUYÊN NHÂN
Virus
Nhiễm virus là một trong những nguyên nhân gây sốt thường gặp nhất ở người lớn. Các triệu chứng bao gồm: chảy nước mũi, đau họng, ho, khàn tiếng, và nhức mỏi cơ. Virus cũng có thể gây tiêu chảy, nôn ói hoặc khó chịu ở dạ dày.
Trong hầu hết các trường hợp, bệnh do virus có thể tự khỏi theo thời gian. Kháng sinh không thể điều trị được virus.
Tình trạng nhiễm virus influenza có thể diễn ra hằng năm và là nguyên nhân chính gây tử vong và bệnh năng cho những người cao tuổi. Các triệu chứng bao gồm nhức đầu và nhức cơ, khớp cùng với những triệu chứng thường gặp khác của nhiễm virus, trong đó có bao gồm cả sốt. Cần phải tiêm phòng vaccine influenza cho những người trên 50 tuổi và bất kỳ ai có nguy cơ tiếp xúc với loại virus này. Ngoài ra, có những loại thuốc chống lại influenza ngay lập tức sau khi xuất hiện triệu chứng. Bệnh thường xảy ra vào mùa lạnh.
Vi khuẩn
Những bệnh gây sốt do vi khuẩn có thể ảnh hưởng đến hầu hết bất kỳ hệ cơ quan nào trong cơ thể. Bệnh có thể được điều trị bằng kháng sinh.
• Nhiễm trùng thần kinh trung ương (não và tủy sống) có thể gây sốt, nhức đầu, cứng cổ, hoặc lú lẫn. Bệnh nhân có thể lơ mơ và dễ kích thích, và mắt dễ bị ánh sáng kích thích. Đây có thể là biểu hiện của viêm màng não hoặc nhiễm trùng não, do đó bệnh nhân nên được đưa đến bác sĩ ngay lập tức.
• Nhiễm trùng đường hô hấp dưới bao gồm viêm phổi và viêm phế quản. Các triệu chứng bao gồm ho, khó thở, khạc đàm đặc và đôi khi đau ngực. Những người có hút thuốc nên ngừng thuốc ngay lập tức. Sốt gây đổ mồ hôi đêm và xuất hiện máu trong đàm đôi khi có thể gợi ý đến bệnh lao. Bất kỳ ai có những triệu chứng trên đều cần phải đến bệnh viện.
• Nhiễm trùng đường hô hấp trên xảy ra ở họng, tai, mũi và các xoang. Các triệu chứng chảy nước mũi, nhức đầu, đau họng kèm với sốt có thể giúp nghĩ đến một tình trạng nhiễm trùng.
• Nhiễm trùng hệ niệu-sinh dục có thể làm cho bệnh nhân bị tiểu rát, tiểu máu, tiểu lắt nhắt (có cảm giác muốn đi tiểu thường xuyên) và đau lưng kèm theo với sốt. Đây có thể là những biểu hiện của tình trạng nhiễm trùng ở bàng quang, thận, hoặc đường tiểu. Có thể dùng kháng sinh để điều trị.
• Nếu hệ sinh dục bị ảnh hưởng, bệnh nhân thường thấy bị chảy dịch ở dương vật hoặc âm đạo và bị đau khung chậu kèm với sốt. Đây có thể là biểu hiện của tình trạng viêm vùng chậu gây tổn thương nghiêm trọng đến cơ quan sinh dục. Trong trường hợp này, bệnh nhân và tất cả các bạn tình nên được bác sĩ khám bệnh.
• Nhiễm trùng hệ tiêu hóa được biểu hiện bởi các triệu chứng như tiêu chảy, nôn ói, khó chịu ở dạ dày và đôi khí thấy có máu trong phân. Máu trong phân thường biểu hiện tình trạng nhiễm trùng và có thể được điều trị bởi kháng sinh. Đau bụng có thể là do nhiễm trùng ở ruột thừa, túi mật, hoặc gan và bệnh nhân nên đi bác sĩ khám bệnh.
• Hệ tuần hoàn (bao gồm tim và phổi) cũng có thể bị vi khuẩn tấn công. Có thể sẽ không có những triệu chứng đặc hiệu xuất hiện cùng với sốt. Bệnh nhân có thể cảm thấy nhức mỏi cơ thể, run, yếu người, lú lẫn. Nhiễm trùng huyết khi vi khuẩn xâm nhập vào máu. Nhiễm trùng van tim có thể xảy ra ở những bệnh nhân đã từng phẫu thuật tim và những người dùng thuốc qua đường tĩnh mạch. Tình trạng này cần phải được nhập viện và điều trị tức thời với kháng sinh đường tĩnh mạch.
• Da, bộ phận lớn nhất của cơ thể, cũng có thể là nguồn gốc của nhiễm trùng. Bệnh nhân có thể bị đỏ, sưng, nóng và chảy mủ hoặc đau ở vùng nhiễm trùng. Nhiễm trùng có thể là kết quả của chấn ở da hoặc thậm chí chỉ là một lỗ chân lông bị nghẹt gây ra abces. Đôi khi khu vực nhiễm trùng cần phải được dẫn lưu. Thường cũng cần sử dụng đến kháng sinh.
Nấm
Nhiễm nấm có thể ảnh hưởng đến bất kỳ hệ cơ quan nào. Bệnh thường được điều trị bằng thuốc kháng nấm.
Sốt do tiếp xúc với động vật
Một số người có công việc liên quan đến động vật có thể tiếp xúc với những loại vi khuẩn hiếm gặp có thể gây sốt. Ngoài triệu chứng sốt, bệnh nhân có thể cảm thấy ớn lạnh, nhức đầu, đau cơ và khớp. Những vi khuẩn này có thể tồn tại ở vật nuôi trong nhà, trong những thực phẩm hằng ngày chưa được tiệt trùng và trong nước tiểu của những động vật bị nhiễm bệnh.
Sốt ở những người đi du lịch
Những người đi chơi xa có thể bị sốt do tiếp xúc với những loại thức ăn mới, chất độc, côn trùng hoặc những bệnh có thể ngừa được bằng vaccine.
Khi đi du lịch, uống phải nguồn nước bị nhiễm bẩn, rau quả còn sống, hoặc những thực phẩm chưa được tiệt trùng có thể gây sốt nhẹ và tiêu chảy. Có thể dùng Pepto-Bismol, Imodium và một số kháng sinh để điều trị. Những triệu chứng như quặn bụng, nôn ói, nhức đầu và sưng có thể khỏi sau 3-6 ngày. Nếu sốt trên 38.5oC hoặc có máu trong phân, bạn nên đến gặp bác sĩ ngay lập tức.
Vết côn trùng cắn là nguyên nhân gây nhiễm trùng thường gặp ở một số nước. Sốt rét là một bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng có thể xảy ra sau khi bị muỗi cắn. Khi bị cắn, người bệnh sẽ bị sốt và khỏi sau mỗi vài ngày. Cần phải được xét nghiệm máu để chẩn đoán. Ở một số khu vực dịch tễ, khi đi du lịch bạn cần phải mang theo thuốc phòng sốt rét. Bệnh Lyme bị lây nhiễm qua vết cắn của ve. Bất kỳ trường hợp nhiễm trùng nào do côn trùng cắn cũng cần phải được đưa đến bác sĩ.
Sốt do thuốc
Nếu cơn sốt xuất hiện sau khi bắt đầu dùng một loại thuốc mới và không tìm thấy một nguyên nhân gây sốt nào khác thì đó có thể là sốt thuốc. Cơn sốt có thể xuất hiện ở bất kỳ thời điểm nào sau khi bắt đầu dùng thuốc và có thể hết sau khi ngưng thuốc.
• Kháng sinh thường gây sốt sau một tuần điều trị
• Một số thuốc tim mạch và chống tai biến có thể gây sốt sau vài tháng điều trị.
• Cơn sốt có thể xuất hiện tức thời do phản ứng dị ứng với thuốc hoặc do chất bảo quản chứa trong thuốc.
• Dùng quá nhiều aspirin và hormon giáp có thể làm tăng chuyển hóa và gây sốt.
• Thuốc kháng histamin, một số thuốc chống trầm cảm và các thuốc an thần giảm đau có thể ngăn không cho thoát nhiệt ra ngoài cơ thể.
• Cocaine và amphetamine cũng có thể làm tăng hoạt động cơ và gây sốt.


Sốt do huyết khối
Đôi khi huyết khối xuất hiện ở chân có thể gây phù và đau ở vùng bắp chân. Một phần của cục huyết khối này có thể vỡ ra và đi vào phổi gây đau ngực và khó thở. Ngược lại, bệnh nhân có thể bị sốt do viêm các mạch máu. Nếu có bất kỳ triệu chứng nào trên đây, bạn nên đến bệnh viện để được khám.
Sốt do u
Ung thư có thể gây sốt bằng nhiều cách khác nhau. Đôi khi chính khối u sản xuất ra pyrogen tự gây sốt. Một số khối u có thể bị nhiễm trùng. Những khối u ở não có thể ngăn không cho hạ đồi điều hòa nhiệt độ của cơ thể. Nhiều loại thuốc mà bệnh nhân ung thư đang sử dụng có thể gây sốt. Và cuối cùng, hệ miễn dịch ở bệnh nhân bị ung thư có thể yếu đi nên cơ thể giảm khả năng chống đỡ lại với nhiều loại nhiễm trùng.
Sốt do môi trường
Đôi khi thân nhiệt có thể đạt đến mức giới hạn cao khi cơ thể trở nên quá nóng. Tình trạng này được gọi là tăng thân nhiệt. Hiện tượng này thường xảy ra khi tập những môn thể thao nặng hoặc khi cơ thể tiếp xúc với khí hậu nóng hoặc ẩm ướt. Một số loại thuốc thay đổi thói quen cơ thể có thể ngăn không cho cơ thể chống đỡ lại với nhiệt. Những người bị tăng thân nhiệt có thể bị lú lẫn, lơ mơ hoặc thậm chí là hôn mê. Họ có thể có thân nhiệt rất cao và không thể đổ mồ hôi. Cách điều trị tình trạng tăng thân nhiệt khác so với điều trị những nguyên nhân gây sốt khác. Bệnh nhân bị tăng thân nhiệt nên được làm lạnh ngay lập tức.
Những bệnh lý đặc biệt
Nhiều người bị những bệnh làm giảm khả năng hoạt động bình thường của hệ miễn dịch làm cho những tác nhân nhiễm trùng gây sốt có thể xâm nhập vào cơ thể một cách dễ dàng hơn. Những nguyên nhân gây suy yếu hệ thống miễn dịch:
• Ung thư
• Thuốc trị ung thư
• Ghép tạng
• Sử dụng corticoid trong một thời gian dài
• HIV
• Lớn hơn 65 tuổi
• Không có lách
• Sarcoidosis
• Lupus
• Dinh dưỡng kém
• Đái tháo đường
• Uống rượu nặng hoặc sử dụng ma túy.