Các chất chuyển hóa gây hôn mê

Hôn mê là tình trạng không đáp ứng với kích thích và không tỉnh dậy được, là tìh trạng rối loạn ý thức biểu hiện bằng kém nhại cảm với các kích thích và không đáp ứng với chúng.
Hôn mê do chuyển hóa thường nhất là các bệnh nội khoa, thường thấy ở giai đoạn cuối của bệnh, bao gồm bệnh não do chuyển hóa nguyên phát (những bệnh não thoái hóa) và bệnh não do chuyển hóa thứ phát (những căn bệnh ngoài não gây trở ngại lên chuyển hóa não). Bệnh não do chuyển hóa thứ phát là nguyên nhân thường gặp.
Các chất sinh ra trong quá trình chuyển hóa có thể dẫn đến hôn mê:
1. Các chất nội sinh:
- NH3:
Amoniac được xem là tác nhân chính gây hôn mê gan. Amoniac là chất độc thần kinh tan nhanh trong nước, phần còn lại ở dạng ion.khi nồng độ cao gây rối loạn hoạt động tế bào não. Nó còn có ảnh hưởng rất lớn đến chuyển hóa glucose tạo năng lượng. Qúa trình này gây nên rối loạn khử cực điện thế màng sau synap.
Trong các nghiên cứu còn cho thấy nộng độ NH3 có liên quan đến tăng glutamin làm độc và chết tế bào. Bên cạnh đó còn cho thấy NH3 có vai trò giả chất dẫn truyền thần kinh như: Phenylalanine, Tyrosine, Methionine, Isoleucine. Tuy nhiên không có một tác nhân hóa học riêng lẻ nào giải thích toàn bộ các triệu chứng và đôi khi nồng độ NH3 bình thường
- Ure:
Khi có sự tăng ure huyết mất bù, các lớp tế bào bị tổn thương nhất là bán cầu tiểu não và thoái hóa thần kinh, ảnh hưởng đến dẫn truyền synap làm chức năng bộ não suy giảm.
Tăng ure huyết có sự gia tăng và tích tụ các acid hữu cơ, các acid này có tác dụng làm tăng tính thấm thành mạch, nên các chất này vào dịch não tủy và dịch ngoại bào kích thích gây co giật hoặc hôn mê.
2. Chất độc ngoại sinh:
Thuốc và các chất độc gây toan chuyển hóa cũng có thể dẫn đến hôn mê. Ba chất độc gây toan chuyển hóa:
. Methyl alcohol được chuyển hóa thành acid formic và các sản phẩm gây độc khác.
. Ethylene glycol chuyển hóa thành acid oxalic và các acid khác.
. Paraldehyde thành acid acetic.
Khi uống vào các chất trên nhanh chóng gây nên chứng toan có thể tử vong nếu không kịp thời điều trị.
3. Hệ GABA – Benzodiazepine:
Benzodiazepine (BZD) có thể nội sinh (hiện diện trong mô não BN hôn gan) hay ngoại sinh (do dùng các chất trong nhóm Benzodiazepine như là thuốc an thần).
Cơ chế tác dụng: BZD gắn lên các receptor đặc hiệu của nó ở hệ thần kinh trung ương. Bình thường khi không có BZD, các receptor của BZD được gắn bởi một protein nội sinh làm cho GABA (là chất trung gian hóa học có tác dụng ức chế lên hệ thần kinh trung ương) không gắn vào receptor của hệ GABA-ergic, làm cho kênh Cl- của nơron khép lại. Khi có mặt BZD, do có ái lực lớn hơn protein nội sinh, BZD đẩy protein nội sinh và chiếm lấy receptor. Nhờ đó, GABA gắn được vào receptor của nó và làm mở kênh Cl-, Cl – đi từ ngoài vào trong tế bào gây hiện tượng ưu cực hóa. Các receptor của BZD có liên quan về mặt giải phẩu chức phận với receptor của GABA.