6. Chăm sóc bệnh nhân sau đặt DL:
TD tình trạng hô hấp của BN:
- Xem có khó thở? nhịp thở? tần số thở? nếu bn có khó thở cho nằm đầu cao và cho thở oxy
- Da niêm mạc hồng hay tím tái?
- Hệ thống DL có hoạt động ?
- Nghe phổi xem rì rào phế nang có tăng không?
TD tình trạng tại vị trí chân DL:
- Khô hay thấm dịch, dịch thấm băng màu gì
- Ống dẫn lưu có được cố định an toàn không
- Nếu băng ướt thì thay băng
TD tình trạng dây nối và bình chứa:
Cách phát hiện ống không bị tắc: nhìn vào thành ống thấy các bọt khí chuyển động theo nhịp thở bệnh nhân chúng tỏ ống lưu thông tốt
Hoặc quan sát mức nước trong đoạn ống thuỷ tinh dài ngâm trong chai hứng. Nếu ống thông suốt thì thấy mức nước được hút lên cao trong lòng ống và lên xưống theo nhịp thở và càng xuống mạnh hơn khi bệnh nhân ho hoÆc thở sâu
- Dây nối có bị tắc và bẩn không? Nếu có thì bơm rửa lại hoặc thay dây
- Bình chứa có được đặt ở nơi an toàn không có thấp hơn giường 60-70cm không?
- Áp lực hút: không được quá cao thường từ -20 đến -40cm nước
- Thường xuyên kiểm tra xem ống DL có bị tụt không, có bị hở không bằng cách kẹp từng đoạn ống DL (cách các chỗ nối) để kiểm tra
- Cạnh giường của bệnh nhân cần luôn có sẵn 2 kìm Kocher khoẻ để kẹp ống dẫn lưu mỗi khi thay chai hoặc khi cần di chuyển bện nhân. Trước khi vận chuyển thương binh cần phải rút ống dẫn lưu màng phổi
TD dịch và khí hút ra:
- Màu sắc: nhạt dần là bình thường
- Số lượng ít dần là bình thường
- Nếu máu mới chảy ra thì sờ vào ống DL thấy ấm, máu chảy ra còn đông, nếu chảy nhiều máu thì có hội chứng mất máu (Máu chảy lâu trong khoàng màng phổi sẽ không đông), cần theo dõi sát ống dẫn lưu nếu thấy máu chảy nhỏ giọt liên tục thì chỉ định mở ngực cầm máu.
- Khi không còn dịch và khí thoát ra nếu thấy bọt khí vẫn thay đổi theo nhịp thở là không bị tắc ống
Không được vận chuyển BN khi đang DL vì
- Không đảm bảo được độ cao của bình chứa tới ngực của bệnh nhân là lúc nào cũng ≥ 60cm
- Di chuyển → ống DL tụt hoặc chọc vào các tổ chức xung quanh(nhu mô phổi)
- Do di chuyển → đầu ống DL sẽ không còn ở vị trí thích hợp để hút dịch và khí nữa do đó hiệu quả DL không đạt được
Rút DL: Phải đảm bảo không gây TK trở lại
- Nguyên tắc:
+ Rút nhanh
+ Rút dứt khoát
+ Rút một thì
- ĐK:
+ Đảm bảo thời gian thường 48-72h
+ Hết dịch hết khí
+ Phổi nở sát thành ngực(Kiểm tra bằng XQ, nghe RRPN đều như bên lành)
- KT rút: Khi rút dẫn lưu cần đảm bảo vô khuẩn và hút mạnh. Cắt bở những sợi chỉ cố định. PTV cầm ống bằng tay phải, ngón cái và trỏ cảu tay trái kẹp mép da chỗ đặt ống, bảo bệnh nhân hít vào sâu và nín thở , rút nhanh ống vàd kẹp chặt mép da lại tránh không cho không khí lọt vào khoang màng phổi. Tháo mối chỉ chờ,. Băng vô
Hướng dẫn bệnh nhân tập thở:
Có 3 phương pháp tập thở: tự thở, thổi bóng, phế rung kế
- Tự thở:
+ Bảo bn hít thật sâu hết mức → nín thở → thở ra từ từ
- Thở bóng: Thổi bóng căng hết mức → làm xẹp bóng đi → làm lại. Lúc bắt đầu thổi một quả bóng bay sau đó cần lồng 2 quả bóng vào nhau để thổi
Sau rút DL: phải thay băng, TD chân ống DL đến khi liền
7. Ưu nhược điểm của chọc hút và dẫn lưu khoang màng phổi?
Chọc hút:
* Chỉ định:
- Tuyến cơ sở không có điều kiện dẫn lưu
- TD, TK mức độ ít và vừa
- Để chẩn đoán xác định có tràn dịch hoặc tràn khí màng phổi
* Ưu điểm:
- Dễ làm trang bị không cần nhiều
- Có thể làm được nhiều lần
- Trong những trường hợp khoang màng phổi đóng ngăn thì chọc hút có ưu thế
* Nhược điểm là ưu điểm của dẫn lưu
Dẫn lưu:
* Ưu điểm:
- Có thể hút liên tục được duy trì áp lực để phổi nở tối đa và tạo được áp lực âm tính trong khoang màng phổi
- Có thể dẫn lưu một cách triệt để tạo điều kiện cho phổi nở sát thành ngực
* Nhược điểm:
- Trường hợp dày dính màng phổi khoang màng phổi, có các khoang tàn dư không thể dẫn lưu nhiều chỗ được
- Không để quá dài ngày(≤ 72h), nếu sau thời gian này khoang màng phổi còn dịch muốn dẫn lưu tiếp phải đặt lại ở vị trí khác
http://www.youtube.com/watch?v=nZjs0...eature=related
http://www.youtube.com/watch?v=wuSg_...eature=related

Tài liệu tham khảo:
http://www.bsdany.com/showthread.php?t=353