Mỗi hệ thống lý thuyết được đặt ra, mỗi bài viết trong giáo trình luôn mang theo bản thân nó tính logic, tính hợp lý cao độ cùng những bằng chứng như đinh đóng cột về những gì mà nó muốn trình bày. Thế nhưng, khi ta tìm hiểu sâu xa về lịch sử hình thành của một lý thuyết, ta thấy nó không có một hình ảnh trơn tru bóng bẩy nào mà kỳ thực đầy uẩn khúc, đầy bí ẩn, cũng như vẫn còn quá nhiều điều bí ẩn mà khoa học vẫn chưa thể trả lời. Xin hãy cảm nhận cái nghịch lý này bằng cách trả lời câu hỏi sau đây với chúng tôi: Tại sao virus có cấu trúc DNA lại là virus viêm gan B, trong khi virus có cấu trúc RNA lại là virus viêm gan C?

Vấn đề trình bày sẽ dài dòng, vì những lý do bắt buộc của nó. Tuy nhiên ý duy nhất mà ta nên nhớ trong cả bài viết này là: Bệnh tật được phát hiện ra tùy thuộc vào mức độ phát triển của công nghệ. Bệnh viêm gan do virus là một ví dụ điển hình cho phát biểu trên. Để hiểu một cách tường tận về vấn đề, xin mời các bạn xem qua một lượt về sự phát triển hiểu biết của con người qua 4 lĩnh vực: Virus, Virus viêm gan B, Virus viêm gan C và Công Nghệ Gen. Qua đó tìm thấy mối liên hệ giữa các vấn đề này với nhau:

Virus:
Thế kỷ XIX: virus được định nghĩa là các vật thể gây bệnh truyền nhiễm, có thể qua được màng lọc vi khuẩn, và chỉ sống được trong tế bào ( nên biết là trong khoảng thời gian này người ta đã phát triển được các màng lọc không cho vi khuẩn đi qua; đồng thời là lúc bấy giờ chưa có các kính hiển vi điện tử có thể thấy được cấu trúc virus. Virus lúc này chỉ là một giả thuyết, chưa có các hình ảnh cụ thể).
Năm 1906: nuôi cấy được virus trên môi trường ống nghiệm ( in vitro).
Năm 1931: thấy được hình dạng virus qua kính hiển vi điện tử.


Công nghệ gen:
1972: công nghệ Molecular cloning ra đời. Nhân được DNA.
1987: công nghệ Molecular cloning cho phép xây dựng được các các bản đồ RNA.

Virus viêm gan B:
1883: phát hiện bệnh viêm gan sau khi chủng ngừa đậu mùa.
1965: phát hiện ra antigen Australia ở những người bệnh gan, mà sau này sẽ mang tên HBsAg.
1970: quan sát được virus viêm gan dưới kính hiển vi điện tử.
1979: xây dựng được bản đồ gen của virus viêm gan B dựa vào công nghệ Molecular cloning.

Virus viêm gan C:
1970: phát hiện những cas viêm gan sau truyền máu không phải do virus viêm gan A hay virus viêm gan B.
1989: xây dựng được bản đồ gen của virus viêm gan C dựa vào công nghệ Molecular cloning RNA.

Từ các dữ kiện đã nêu ở phía trên, ta có nhận xét gì? Có 2 điều rút ra được ở đây: thứ nhất, công nghệ nhận dạng DNA đi trước RNA một bước. Thứ hai, trong khi virus viêm gan B được nhận dạng lúc đầu bằng các antigen bề mặt, thì virus viêm gan C lại không thể phát hiện bằng các antigen mà phải đợi đến năm 1989 mới nhận dạng virus trực tiếp bằng công nghệ gen( người ta lý giải điều này do số lượng antigen của HCV quá thấp nên không thể phát hiện được, phải đợi đến khi có các xét nghiệm miễn dịch tìm antibody của HCV thì người ta mới xây dựng được test anti-HCV ngày nay) . Do đó, virus có cấu trúc DNA đã được phát hiện trước và được đặt tên virus viêm gan B, còn virus có cấu trúc RNA được phát hiện sau, do đó được đặt tên là virus viêm gan C. Các virus có tên lần lượt do hệ quả của sự phát triển công nghệ. Có một suy nghĩ gì có thể rút ra khi nhìn vào cả lịch sử hình thành của các bệnh viêm gan virus này? Công nghệ càng phát triển thì chúng ta sẽ ngày càng phát hiện nhiều bệnh tật hơn. Do đó, quá trình học y khoa là phải cập nhật kiến thức liên tục cũng như không thể tự tin và tin tưởng vào bất cứ điều gì: chủng ngừa đậu mùa ngăn ngừa được đậu mùa nhưng đã lan truyền viêm gan B đấy!