Trang 2/2 đầuđầu 12
kết quả từ 11 tới 14 trên 14

Ðề tài: Medical Terminology

  1. #11
    Senior Member

    Tham gia ngày
    Apr 2011
    Bài gởi
    176

    Default Sond Blackmore và sonde Linton

    Chủ Đề: Default Sond Blackmore và sonde Linton

    ►Lượt Xem: 18056 ►Trả Lời: 13
    ►Chia Sẽ:
    ►Ngày Gửi: 08-08-11 ►Đánh Giá: Sao



    2 sonde đều có cùng cách thức hoạt động chỉ khác là sonde Linton thì bơm hơi vào bóng dạ dày nhiều hơn hăn. Sonde Blackmore để cầm máu do dãn tĩnh mạch thực quản còn chẹn sonde Linton dùng cho dãn tĩnh mạch vùng phình vị.

    Cách làm: (bài viết của BS Xuân BVĐK Kiên Giang Khoa ICU - anh Pink Spring)


    ĐẶT ỐNG THÔNG BLAKEMORE

    I. MỤC ĐÍCH
    Ống thông Blakemore là ống thông có hai bóng được sử dụng để cầm máu trong điều trị xuất huyết tiêu hoá do vỡ tĩnh mạch thực quản. Bóng tròn (bóng dạ dày) để bịt và ép vào lỗ tâm vị, bóng đài (bóng thực quản) được bơm căng để ép vào các tĩnh mạch giãn.

    II. CHỈ ĐỊNH
    Các trường hợp xuất huyết tiêu hoá nghi do vỡ tĩnh mạch thực quản. Nếu chưa chẩn đoán xác định xuất huyết tiêu hoá do chảy máu dạ dày hay vỡ tĩnh mạch thực quản thì đặt ống thông này có tác dụng theo dõi cả xuất huyết dạ dày và giúp chẩn đoán xác định.

    III. CHUẨN BỊ

    1.Cán bộ chuyên khoa
    - Một bác sĩ chuyên khoa hồi sức cấp cứu.
    - Một người phụ đưa dụng cụ.
    - Khử khuẩn tay, đeo khẩu trang.

    2.Phương tiện
    - Ống thông Blakemore.
    - Dầu paraphin hay mỡ xylocain, bơm phun.
    - Bơm tiêm 50ml, đầu nối.
    - Dây nối và đầu nối để dẫn lưu dịch và máu ở dạ dày vào lọ hay túi chất dẻo, dây vải buộc cố định ống thông Blakemore dài 50 - 70cm.
    - Đèn soi thanh quản, kẹp Magill, đèn Clar và mỏ vịt mũi.
    - Máy hút các loại, ống thông các loại.
    - Bơm tiêm 2ml, kim vô khuẩn hai chiếc.
    - Atropin 0,25mg, 4 - 6 ống.
    - Gạc vô khuẩn.
    - Kiểm tra hai bóng có thủng không bằng cách bơm 50ml không khí vào mỗi bóng và ngâm vào chậu nước xem bóng có thủng không
    - Nếu bóng còn tốt, lấy hết khí ra bằng bơm tiêm, bôi dầu paraphin quanh bóng và đầu ống thông.
    - Nếu bóng thủng mà cứ đưa vào thực quản sẽ gây nguy hiểm cho người bệnh vì gây chảy máu nhiều thêm.

    3.Người bệnh
    a. Người bệnh tỉnh: nằm ngửa hoặc tư thế nửa nằm nửa ngồi (Fowler).
    b. Người bệnh mê nằm ngửa, đầu thấp.
    c Tiêm trước 0,5mg atropin tĩnh mạch.
    d. Giải thích cho người bệnh các bước tiến hành và động viên người bệnh hợp tác với người làm thủ thuật.

    IV. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
    1. Soi mũi xem lỗ nào thông nhất.
    2. Gây tê ống mũi bằng bơm phun xylocain.
    3. Bôi dầu paraphin vào hai bóng và đầu ống thông.
    4. Đưa ống thống thẳng góc với mặt người bệnh. Khi ống thông đã vào đến họng.
    a. Nếu người bệnh tỉnh táo bảo người bệnh nuốt rồi đẩy thêm sau. Nếu không kết quả bảo người bệnh uống từng ngụm nước nhỏ, lợi dụng lúc người bệnh nuốt rồi đẩy ống thông vào. Sau mỗi lần nuốt bảo người bệnh thở sâu và đều, lấy lại bình tĩnh. Nếu sặc hoặc nôn, phải hút ngay dịch ở miệng, họng bằng một ống thông to nối với máy hút.
    b. Nếu người bệnh hôn mê: phải đặt ống nội khí quản có bóng chèn trước khi đặt ống thông để tránh sặc vào phổi. Kê gối dưới đầu người bệnh để đầu gập lại rồi đẩy ống thông từ từ. Nếu vướng không vào phải soi bằng đèn soi thanh quản qua mồm rồi dùng kẹp Magill kẹp ống thông đẩy dần dần vào.
    5. Đẩy ống thông đến vạch thứ ba (ống thông đã nằm trong dạ dày) kiểm tra thấy có dịch vị chảy ra.
    6. Bơm 20ml khí vào bóng dạ dày (bóng tròn) và từ từ kéo ống thông ra cho đến khi bóng ép sát vào tâm vị, ta có cảm giác vướng không kéo ra được nữa.
    7. Ống thông được kéo bằng một hệ thống ròng rọc nối với một lưỡi gà bằng cao su nặng khoảng 100 - 150g.
    8. Bơm 60 - 80ml khí vào bóng thực quản để duy trì áp lực trong bóng khoảng 40 - 50mmHg. Nếu máu tươi vẫn chảy ra có thể bơm đến 100ml khí, nhưng không được quá thể tích này.
    9. Kiểm tra vị trí của ống thông bằng chụp X quang tại giương. Vị trí tốt nhất của ống thông là nằm ngay dưới cơ hoành
    và ở dưới tim một chút.

    V. THEO DÕI VÀ XỬ TRÍ TAI BIẾN

    1.Theo dõi
    a. Rửa dạ dày lúc đầu đều đặn 1 giờ một lần bằng nước đá đang tan cho đến khi nước trong và không còn máu cục nữa.
    b. Theo dõi hô hấp vì ống thông có thể gây ra suy hô hấp.
    c. Bóng thực quản (bóng dài) phải được tháo đều đặn 15 phút trong mỗi 4 giờ để làm giảm nguy cơ hoại tử thực quản.
    d. Khi máu ngừng chảy, lưu ống thông dạ dày lại 12 giờ, rồi tháo bóng thực quản nhưng vẫn lưu bóng dạ dày trong 12 giờ tiếp theo. Sau đó sẽ tháo bóng dạ dày nhưng vẫn lưu ống thông lại 24 giờ với bóng xẹp.

    2. Xử trí
    Chảy máu cam: phải cầm máu tại chỗ khi đặt ống thông.
    Nhịp tim chậm hoặc ngừng tim: hồi sức cấp cứu.
    Hoại tử thực quản nặng: xem xét can thiệp ngoại khoa.
    Suy hô hấp: thông khí nhân tạo.
    Trào ngược dịch dạ dày: đặt ống nội khí quản có bóng chèn, hút dịch.
    __________________
    Danh dự - Trách nhiệm

  2. #12
    Senior Member

    Tham gia ngày
    Apr 2011
    Bài gởi
    176

    Default Frozen biopsy _ Sinh thiết lạnh là gì?




    Máy sinh thiết lạnh

    Sinh thiết lạnh đúng như tên của nó sau khi lấy mẫu bệnh phẩm (phẫu thuật viên làm) sẽ được xịt làm lạnh và đọc ngay kết quả trong vòng 30 phút.

    Xét nghiệm được thực hiện trong quá trình phẫu thuật ptv lưỡng lự không biết khối u này lành hay ác hay mô xung quanh có còn tế bào ác tính hay không? Kết quả có được sẽ giúp ptv lựa chọn phương án tiếp theo. Dĩ nhiên, kết quả quan trọng ảnh hưởng đến sự sống còn của bệnh nhân như thế nên kết quả thường do bs giải phẫu bệnh giỏi có nhiều kinh nghiệm đảm trách và chịu trách nhiệm với trả lời của mình.

    Do làm mẫu bệnh phẩm nhanh nên hình ảnh sẽ không đẹp và đòi hỏi tay nghề bs giải phẫu bệnh. Độ chính xác của xét nghiệm là 84% - 98%, có kết quả báo cáo 240 case cho rằng độ chính xác là 98.7%.

    Xem thệm:

    Intraoperative diagnosis using the frozen section technique
    Danh dự - Trách nhiệm

  3. #13
    Senior Member

    Tham gia ngày
    Apr 2011
    Bài gởi
    176

    Lightbulb Free erythrocyte Protoporphyrin là gì?


    Trước hết nhìn qua lại cấu trúc của protoporphyrin




    Còn đây là dạng kết nối với Fe và nhóm chức để tạo nên Heme



    Một số trường hợp kết hợp với kẽm tạo nên Zinc protoporphyrin



    Trong hồng cầu, protoporphyrin có thể kết hợp với Fe để tạo nên Heme hay ở dạng tự do. Dạng tự do trong hồng cầu (free erythrocyte protoporphyrin) bao gồm dạng có hoặc không có kết hợp với Zn qua phản ứng chelat hóa (free type protoporphyrin and zinc protoporphyrin).

    Như vậy xét nghiệm Zn protorporphyrin hay protoporphyrin tự do trong hồng cầu để làm gì?

    2 dạng này tăng trong các trường hợp sau:

    1. Ngộ độc chì
    2. Thiếu sắt mãn
    3. Hồng cầu hình liềm
    4. Thiếu máu nguyên bào sắt
    5. Thiếu máu mãn
    6. Tiếp xúc với vanidi

    Nó không những là phương tiện gợi ý chẩn đoán mà còn là phương tiện đê theo dõi điều trị như trong các bệnh lý ngộ độc chì và thiếu máu thiếu sắt.

    Theo bài báo này, người ta cho rằng xét nghiệm free erythrocyte Protoporphyrin tốt hơn là ZnP

    Xem thêm tại đây:

    Free erythrocyte protoporphyrin (FEP) and zinc protoporphyrin (ZnP) as biological parameters for lead poisoning
    Danh dự - Trách nhiệm

  4. #14
    Senior Member

    Tham gia ngày
    Apr 2011
    Bài gởi
    176

    Default Transferrin saturation?


    Fe trong huyết thanh (serum Fe bt khoảng 60 - 170 mcg/dl) (10 - 30 mmol/l) ở dạng tự do hay kết hợp với transferrin để tạo thành ferrin lưu hành trong máu.

    Độ bảo hòa transferrin cho biết có bao nhiêu transferrin kết hợp với Fe.
    Giá trị bt là: 15 - 50% male, 12 - 40% female.
    Danh dự - Trách nhiệm

Trang 2/2 đầuđầu 12

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Trang Chủ YCanTho Copyright © 2012-2013 Diễn đàn YCantho
S2 ĐỂ BLOUSE MÃI TRẮNG
Vui lòng trích dẫn "www.ycantho.com" khi bạn phát hành thông tin từ Ycantho.
Múi giờ GMT. Hiện tại là 11:26 PM.