Vết thương khớp nói chung là tổn thương đứt rách dây chằng, bao khớp, mu khớp do tác nhân sát thương gây nên làm cho ổ gãy thông với môi trường bên ngoài. Trật khớp hở và gãy xương hở thấu khớp cũng là vết thương khớp.
Vết thương thấu khớp là vết thương làm thông ổ khớp ra môi trương bên ngoài. Thường vào ban đêm đau nhức tăng lên dữ dội.
Vết thương khớp hở thường được chia làm 4 độ:
Độ I: vết thương đâm thủng một khớp hoặc làm rách bao khớp nhưng không có tổn thương mô mềm rộng.
Độ II: thủng một hoặc nhiều bao khớp hoặc rách bao khớp với chấn thương mô mềm lan rộng.
Độ III: gãy quanh khớp hở mà đường gãy kéo thông vào mặt khớp kế cận.
Độ IV: trật hở khớp hoặc thần kinh bị tổn thương kèm theo hoặc chấn thương mạch máu cần hồi phục lưu thông.
Vết thương không thấu khớp là vết thương không làm thông ổ khớp ra môi trương bên ngoài. Đơn thuần nó chỉ là những tổn thương vùng khớp, không thông ổ khớp ra ngoài.
Tiêu chuẩn chẩn đoán chấn thương khớp hở (=vết thương khớp và gãy hở khớp) là có vết thương nhìn thấy hoặc có thể sờ thấy lổ vào trong khớp. Trên Xq thường qui thấy có khí trong khớp bị chấn thương cấp là bằng chứng của rách bao khớp, cũng như vậy nếu chúng ta thấy dị vật trong khớp trên hai bình diện phim là chứng tỏ khớp thông với bên ngoài. Nếu không thấy những dấu hiệu trên hoặc nghi ngờ thì việc bơm dung dịch muối đẳng trương vào trong bao khớp đẻ thấy dịch thoát ra ngoài là bằng chứng chưng minh chấn thương khớp hở.

www.bacsinamanh.com/files/GAYXUONGHO.pdf