kết quả từ 1 tới 7 trên 7

Ðề tài: Hodgkin's lymphoma (nhóm 4 - Y3K34)

  1. #1
    mvkimthanh
    Guest

    Default Hodgkin's lymphoma (nhóm 4 - Y3K34)

    Chủ Đề: Default Hodgkin's lymphoma (nhóm 4 - Y3K34)

    ►Lượt Xem: 8229 ►Trả Lời: 6
    ►Chia Sẽ:
    ►Ngày Gửi: 28-04-11 ►Đánh Giá: 5Sao

    U hạch Hodgkin là một loại ung thư ác tính ở các tế bào của hệ bạch huyết, tỉ lệ mắc ở người Việt Nam là 0.3/100 000 dân.

    Về cơ bản, hệ thống bạch huyết có chức năng giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh (vi khuẩn, virus, các vật lạ khác). Hệ thống miễn dịch của cơ thể bao gồm các hạch bạch huyết, lách, amiđan, sùi vòm họng (VA), tủy xương, các bộ phận cận giáp. Các cơ quan này liên hệ với nhau bằng một hệ thống mạch bạch huyết phân bố khắp cơ thể.

    U hạch Hodgkin là tình trạng các tế bào trong các hạch của hệ miễn dịch tăng trưởng 1 cách bất thường, vô tổ chức và không thể kiểm soát được và được phân chia thành hai nhóm chính: Hodgkin & không phải Hodgkin (Non-Hodgkin). Các ung thư hạch có liên quan đến tế bào Reed-Sternberg được phân vào nhóm bệnh Hodgkin. Các ung thư xuất phát từ các gốc tế bào không phải là tế bào Reed-Sternberg được phân vào nhóm bệnh non-Hodgkin.

    Tế bào Reed-Sternberg đươc hình thành từ tế bào liên võng nội mô. Đây là các tế bào kích thước lớn, đường kính 30-60 micromet, nguyên sinh chất rộng bắt màu kiềm, có một hoặc nhiều nhân, nhân lớn, hình hạt cà phê đối xứng (Hình mắt kính), có hạt nhân (do các hạt vùi tạo thành), có khoảng sáng quanh nhân, lưới nhân thô.

    Yếu tố nguy cơ:
    - Tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới gấp đôi nữ giới
    - Một số virus: EBV (Epstein-Barr virus), HIV có thể làm tăng nguy cơ phát triển u lympho Hodgkin
    - Suy yếu hế thống miễn dịch: sau phẫu thuật cấy ghép tạng, sau nhiều đợt điều trị ung thư…
    - Tuổi: bệnh khởi phát ở trẻ trên 3 tuổi nhưng phổ biến nhất trong số các thanh thiếu niên và người lớn tuổi từ 55 tuổi trở lên
    - Tiền sử gia đình: có người thân (có quan hệ trực hệ) đã mắc u lympho Hodgkin

    Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp bị Hodgkin mà không thấy có các yếu tố nguy cơ trên.

    Triệu chứng lâm sàng
    Các triệu chứng thường không giống nhau ở mọi người bệnh:
    - Nổi 1 hay nhiều hạch ở cổ, nách hoặc bẹn, hay ở sâu bên trong cơ thể như hạch trung thất. Các hạch này không tư mất đi sau đó. Hạch thường nhẵn, mật độ chắc, không di động. Lúc đầu thường đơn độc về sau thường liên kết lại thành chùm, ấn không đau.
    - Sốt kéo dài (thường là sốt hồi quy) kèm hạch to lên (Hạch to lên nhiều khi sốt, giảm khi hết sốt nhưng không về được kích thước ban đầu)
    - Ra mồ hôi trộm
    - Mệt mỏi, yếu cơ
    - Sụt cân nhanh dù ăn uống bình thường
    - Ho hoặc khó thở
    - Có thể ngứa ngáy da. Dùng các thuốc kháng Histamin không đỡ..

    Triệu chứng cơ bản là nổi hạch, nhưng nổi hạch không hẳn là ung thư hạch, cũng có thể là triệu chứng của các bệnh lý viêm nhiễm thông thường khác.

    Chẩn đoán
    Để chẩn đoán xác định, cần phải tiến hành các thăm khám cụ thể và chi tiết. Một số xét nghiệm cần được tiến hành như:
    - Sinh thiết hạch cho chẩn đoán xác định bệnh
    - Xét nghiệm máu
    - X-quang lồng ngực, nếu cần có thể chụp CT hoặc MRI
    - Sinh thiết tuỷ xương
    - Có thể được đề nghị nội soi để quan sát các nội tạng bên trong

    Phân chia giai đoạn:
    Hệ thống xếp giai đoạn bệnh theo Ann Arbor (Dựa vào triệu chứng hạch to), bệnh được chia thành 4 giai đoạn:
    - Giai đoạn I: tổn thương một vùng hạch hoặc cấu trúc lymphô (lách, tuyến ức, vòng waldeyer) duy nhất
    - Giai đoạn II: Tổn thương từ 2 vùng hạch trở lên ở cùng bên cơ hoành
    - Giai đoạn III: Tổn thương nhiều vùng hạch lympho ở hai bên cơ hoành
    - Giai đoạn IV: Tổn thương hạch và kèm theo tổn thương 1 hoặc nhiều cơ quan ngoài hạch

    Ngoài ra, để đánh giá mức độ tiến triển xấu của bệnh người ta chia thành hai giai đoạn A và B:
    *Bệnh được xếp vào giai đoạn B khi ngoài hạch to người bệnh còn có kèm theo một trong các triệu chứng toàn thân sau:
    - Sốt kéo dài, thường là sốt hồi quy kèm hạch to tiến triển.
    - Sụt cân nhanh không rõ nguyên nhân
    - Mồ hôi trộm
    - Ngứa ngáy, dùng thuốc kháng histamin nhưng không giảm

    *Bệnh được xếp ở giai đoạn A khi chỉ có hạch to mà không kèm triệu chứng toàn thân nào.

    Điều trị:
    Không có một công thức chung nào để điều trị cho mọi trường hợp bệnh Hodgkin. Hình thức điều trị & thời gian điều trị hoàn toàn lệ thuộc vào loại bệnh & giai đoạn tiến triển của bệnh, tuổi tác bệnh nhân, thể chất cơ thể & tình hình sức khỏe tổng quát.

    Một số phương pháp điều trị u hạch hodgkin:
    - Hóa trị (chemotherapy)
    - Cấy ghép tủy xương và máu ngoại vi (Bone marrow and peripheral blood transplants)
    - Miễn dịch liệu pháp (Immunotherapy)
    - Xạ trị (radiation therapy)
    - Phẫu thuật





    Tham khảo:
    http://www.medicinenet.com/hodgkins_disease/article.htm
    http://health.nytimes.com/health/gui.../overview.html
    http://www.lymphomainfo.net/hodgkins

  2. #2
    Senior Member

    Tham gia ngày
    Dec 2010
    Bài gởi
    166

    Default


    Bài viết của bạn hay, chứng tỏ có sự đầu tư nghiên cứu nghiêm túc. Vậy theo bạn, những ý chính nào mà sinh viên y3 nên nắm ra khi học về căn bệnh này?

  3. #3
    mvkimthanh
    Guest

    Default


    Trích Nguyên văn bởi Chip View Post
    Bài viết của bạn hay, chứng tỏ có sự đầu tư nghiên cứu nghiêm túc. Vậy theo bạn, những ý chính nào mà sinh viên y3 nên nắm ra khi học về căn bệnh này?

    Nhìn chung, bệnh hodgkin và non-hodgkin có thể xảy ra ở những vị trí giống nhau và gây ra những triệu chứng tương tự nhau. Theo mình, những nội dung sinh viên y3 cần nắm về bệnh hodgkin và cả non-hodgkin:

    - Thứ nhất là những triệu chứng LS (đặc biệt là sốt và nổi hạch)

    - Thứ hai, những yếu tố nguy cơ
    (Tuy nhiên đứng trước 1 BN có hạch to mà ko có các triệu chứng LS điển hình và ko có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào thì cũng ko thể loại trừ khả năng mắc bệnh)

    - Các PP điều trị ko phải là triệt để vì khả năng tái phát bệnh cũng hay xảy ra

    - Cuối cùng là làm thế nào để phân biệt được giữa bệnh hodgkin và non-hodgkin.

  4. #4
    Senior Member

    Tham gia ngày
    Dec 2010
    Bài gởi
    166

    Thumbs up Good job


    Cám ơn bạn vì những ý kiến đóng góp. Có thể thấy bạn chịu nghiên cứu và có trách nhiệm với những gì mình đã viết. Hi vọng bạn sẽ đóng góp nhiều hơn những bài viết có chất lượng của mình cho diễn đàn.
    Mình xin có một số ý kiến sau, hi vọng có thể giúp bạn tham khảo.

    Thứ nhất về triệu chứng Lâm Sàng. Hôm nay mình tìm được trên mạng một Cas Study như sau: 2 bệnh nhân nhập viện với triệu chứng nổi bật nhất là hạch to (Bulky Lymphadenopathy). Sau khi làm phết máu ngoại vi và tủy đồ, một bệnh nhân được xác nhận là bệnh Bạch cầu cấp dòng tủy (AML). Bệnh nhân còn lại chưa xác định được bệnh gì. Sau khi sinh thiết hạch, bệnh nhân được kết luận cũng là Bạch cầu cấp dòng tủy. Tại sao mình lại đưa Cas Study này ra thảo luận với bạn? Liên hệ với thực tế lâm sàng ở khoa Huyết học DKTW Cần Thơ, một bệnh nhân vào với triệu chứng hạch to, sốt sẽ được nghĩ đến nhiều nhất là Bạch cầu cấp dòng tủy. Mục tiêu học tập tại khoa Huyết học cũng chỉ gồm các bệnh thường gặp nhất: Bạch cầu cấp, bạch cầu kinh, suy tủy, xuất huyết giảm tiểu cầu. Do đó, theo mình nghĩ, về mặt triệu chứng lâm sàng, bạn rút ra được sốt và nổi hạch là đã được rồi, nhưng tốt hơn là đặt được một câu hỏi: Với một trường hợp hạch to và sốt như thế này, bệnh nhân đang mắc AML hay Hodgkin? Các xét nghiệm cận lâm sàng nào cần để khẳng định chẩn đoán của mình?

    Thứ hai, bạn nên lật lại sinh lý và giải phẫu một chút. Để làm gì? Để hiểu rõ về mặt bản chất, AML và Hodgkin cơ bản khác nhau như thế nào? Bạn có thấy về mặt lâm sàng, nếu chỉ xét về mặt lý thuyết sách vở, 2 bệnh này triệu chứng có nhiều điểm rất giống nhau không? Cũng đều gan, lách, hạch to; cũng đều có sốt; cũng đều có thiếu máu. Tại sao như vậy? Lúc đầu AML và Hodgkin khởi đầu ở những vị trí khác nhau, nhưng cuối cùng sẽ đến được cái đích giống nhau. AML bắt đầu từ tủy, rồi sau đó lan ra khắp nơi, ảnh hưởng đến máu, đến gan, đến lách rồi đến hạch. Trong khi Hodgkin bắt đầu từ hạch, rồi sau đó cũng lan vào máu, vào gan, vào lách rồi vào tới tủy luôn! Bệnh nhân vào với bạn ở một thời điểm bất kỳ của bệnh, cho nên các lâm sàng, cận lâm sàng chỉ cho bạn thấy một hình ảnh cắt ngang của bệnh, cũng như tôi chỉ biết bạn qua một tiếp xúc khi bạn đang trong trường ĐH, chứ không thể biết được bạn đã từng là một đứa bé oe oe như thế nào, hay bạn sắp thành một ông/bà già 70 tuổi vào 50 năm sau ra sao. Nếu chỉ vậy làm sao tôi dám nói là tôi biết rõ bạn được, cũng như làm sau tôi dám nói tôi hiểu rõ bệnh để chẩn đoán và điều trị? Do đó, phải nắm vững lại sinh lý-giải phãu của Hematology.

    Còn phần yếu tố nguy cơ, mình thấy bao lao vô tận quá. Thú thật tới giờ mình vẫn chưa thấy được ích lợi gì khi học yếu tố nguy cơ ở khoa Huyết học. Nên mình nghĩ y3 không cần nhớ cũng được.
    Cas study tham khảo: http://www.springerlink.com/content/pk7wpgfn6pp83yha/

  5. #5
    mvkimthanh
    Guest

    Smile


    Cảm ơn sự góp ý chân thành cùa bạn Chip rất nhiều.

    Qua lời nhận xét của bạn, mình có thể hiều thêm về AML - điều mà trước đây mình chưa từng nghĩ đến triệu chứng "hạch to và sốt" cũng như những đặc điểm tương tự nhau giữa AML và Hodgkin. Mình chưa đi huyết học nên case lâm sàng của bạn đối với mình rất bổ ích.

    Về phần yếu tố nguy cơ, theo mình nghĩ, y3 tụi mình đang học về triệu chứng, các yếu tố nguy cơ là 1 phần trong phần hỏi bệnh và phần nào có thể giúp thu nhỏ lại phạm vi chẩn đoán. Riêng mình, mình chưa gặp nhiều trường hợp LS về căn bệnh này cũng như AML, thậm chí chỉ mới gặp 1 vài BN thôi và họ đều đã được điều trị và đáp ứng tốt với điều trị. Mình chỉ biết qua lý thuyết là nhiều nên phần nào cũng còn hạn chế.

    Trong quá trình học hay đi lâm sàng, nếu gặp những case nào hay, bạn có thể cho mình và các bạn khác biết được không? Mình nghĩ, những case ấy sẽ giúp ích cho việc học của tụi mình rất nhiều.

  6. #6
    Senior Member

    Tham gia ngày
    Dec 2010
    Bài gởi
    166

    Default Follow you


    Theo lời đề nghị của bạn, từ nay trên diễn đàn tụi mình sẽ cố gắng post những cas lâm sàng có thực ở DKTW hay DKTP Cần Thơ để chúng ta cùng thảo luận, rút ra những kiến thức thiết thực nhất, sát với thực tế ở Cần Thơ nhất, phù hợp với sinh viên của từng năm nhất để học hỏi. Tuy nhiên, sức người có hạn. Mình đề nghị bạn đi lâm sàng, gặp cas nào vừa ý cũng post lên cho mọi người cùng học hỏi nhé. Tuy cùng một bệnh, nhưng thực tế lâm sàng khác nhau thì kiến thức học được ở từng tình huống cũng khác nhau. Hãy cùng nhau biến những đống hổ lốn lý thuyết vô dụng thành thực tế sinh động và hữu ích nhé.

  7. #7
    Senior Member

    Tham gia ngày
    Dec 2010
    Bài gởi
    166

    Default


    Trích Nguyên văn bởi mvkimthanh View Post
    Về phần yếu tố nguy cơ, theo mình nghĩ, y3 tụi mình đang học về triệu chứng, các yếu tố nguy cơ là 1 phần trong phần hỏi bệnh và phần nào có thể giúp thu nhỏ lại phạm vi chẩn đoán. Riêng mình, mình chưa gặp nhiều trường hợp LS về căn bệnh này cũng như AML, thậm chí chỉ mới gặp 1 vài BN thôi và họ đều đã được điều trị và đáp ứng tốt với điều trị. Mình chỉ biết qua lý thuyết là nhiều nên phần nào cũng còn hạn chế.
    Bạn đang học y3 phải không? Tuy chưa học điều trị, nhưng mình đề nghị lâu lâu bạn cũng nên lướt sơ qua phần điều trị một chút, sẽ giúp ích cho việc học Triệu Chứng của bạn rất nhiều. Tại sao mình lại nói vậy? Bạn hãy tưởng tượng nhé: chẳng hạn sắp đến Sinh Nhật của bạn, mình muốn mua một món quà tặng bạn. Có 3 món quà mà mình có thể chọn: Một đĩa nhạc LinkinPark, một vé ca nhạc xem hòa tấu nhạc Trịnh và một con chó nhồi bông. Mình phải cân nhắc giữa các yếu tố: giá tiền, thời gian, độ hiếm của món hàng để cuối cùng có thể lựa ra một món quà hợp lý nhất có thể tặng bạn. Công việc của bác sĩ cũng tương tự như vậy. Có nghĩa là khi bạn có nhiều loại thuốc trong tay, bạn phải lựa chọn xem mình nên dùng loại thuốc nào cho bệnh nhân là hợp lý nhất. Một ví dụ điển hình, muốn sử dụng phác đồ ATP III trong điều trị rối loạn Lipid máu, bạn phải biết bệnh nhân của mình thuộc nhóm nguy cơ nào (Rất cao, cao, trung bình cao, trung bình và thấp). Làm sao biết bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ nào? Chúng ta có bảng sau:

    Nguy cơ rất cao: có bệnh mạch vành và:
    Nhiều yếu tố nguy cơ (đặc biệt tiểu đường)
    Yếu tố nguy cơ không thể kiểm soát được ( ví dụ tiếp tục hút thuốc lá)
    Nhiều yếu tố nguy cơ và hội chứng chuyển hóa
    Hội chứng vành cấp
    Nguy cơ cao: có bệnh mạch vành hoặc các bệnh tương đương với bệnh mạch vành
    Nguy cơ trung bình cao: Có 2 yếu tố nguy cơ trở lên và 10-20% của Framingham score
    Nguy cơ trung bình: có 2 yếu tố nguy cơ trở lên và <10% của Framingham score
    Nguy cơ thấp: 0-1 yếu tố nguy cơ
    Bệnh tương đương với bệnh mạch vành bao gồm: đái tháo đường, các bệnh lý xơ vữa mạch máu không phải mạch vành, >20% ở Framingham score ( bệnh lý mạch máu não, bệnh lý mạch máu ngoại biên, phình động mạch chủ bụng).

    Như vậy lúc này bạn cần biết các yếu tố nguy cơ là gì để xếp loại bệnh nhân. Các yếu tố nguy cơ lúc này là:
    Hút thuốc lá
    Tăng huyết áp ( huyết áp trên 140/90 mmHg hoặc có sử dụng thuốc hạ áp)
    LDL thấp (<40 mg/dL)
    Có tiền sử gia đình mắc bệnh mạch vành trẻ tuổi (Nam<55, nữ<65)
    Tuổi (Nam>45; nữ>55)

    Khi bạn thấy được sự hữu ích của Yếu tố nguy cơ rõ ràng như vậy, bạn học sẽ hứng thú hơn nhiều. Bởi vì lúc này bạn sẽ thấy rõ ràng công dụng của chúng, không còn là một cái gì đó mơ hồ, phải ghi cho dài, cho đủ bệnh án, cho đẹp để nộp thầy nữa. Chúc bạn luôn tìm được niềm vui trong học tập.

    Tham khảo:
    http://www.ycantho.com/qa/showthread...-%C4%91%C3%A2y
    http://www.ycantho.com/qa/showthread...7-Dyslipidemia

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Trang Chủ YCanTho Copyright © 2012-2013 Diễn đàn YCantho
S2 ĐỂ BLOUSE MÃI TRẮNG
Vui lòng trích dẫn "www.ycantho.com" khi bạn phát hành thông tin từ Ycantho.
Múi giờ GMT. Hiện tại là 12:23 AM.