Pseudomonas aerigunosa là một vấn đề rất đáng quan tâm khi đi học ở ICU – Bệnh viện DKTW Cần Thơ. Bài viết sau đây xin được cung cấp cho bạn một số thông tin hữu ích về mặt lâm sàng của con vi khuẩn này:
1. Giúp bạn biết được nhưng căn bệnh mà nguyên nhân có thể là do Pseudomonas aerigunosa
2. Giúp bạn biết được những xét nghiệm cần làm để chẩn đoán xác định Pseudomonas aerigunosa
3. Giúp bạn biết được các kháng sinh được dùng để chữa bệnh do Pseudomonas aerigunosa


A. Các vấn đề vi sinh cơ bản cần nắm khi nhắc đến Pseudomonas aerigunosa:
a. Hình dạng trên lam nuôi cấy:

b. Gram (-)
c. Phản ứng oxidase (+)
d. Phản ứng lên men đường (+) trong nhiều loại đường, chỉ trừ Lactose (-).


B. Bệnh cảnh lâm sàng do Pseudomonas gây ra:
a. Nhiễm trùng da
b. Nhiễm trùng mắt
c. Nhiễm trùng vết bỏng
d. Nhiễm trùng huyết, dịch não tủy
e. Nhiễm trùng tiết niệu
f. Nhiễm trùng hô hấp


C. Các xét nghiệm chẩn đoán:
a. Bệnh phẩm từ ổ kín sẽ được lấy và nuôi cấy trên các môi trường thạch thường.
b. Bệnh phẩm tạp nhiễm (Ổ mủ vỡ, dờm, nhầy) sẽ được nuôi cấy trên môi trường Centrimid.
c. Bộ phận vi sinh sẽ dựa vào hình dạng đại thể của vi khuẩn trên lam nuôi cấy để chẩn đoán sơ bộ. Sau khi nghi ngờ bệnh phẩm là Pseudomonas aerigunosa, kỹ thuật viên sẽ làm thêm 2 xét nghiệm Oxidase và Lên men đường. Nếu kết quả phù hợp ( oxidase (+), lên men Lactose (-)) thì sẽ trả kết quả xét nghiệm cho ICU là Pseudomonas aerigunosa. Trước khi kết quả được trả về, phòng xét nghiệm sẽ là thêm một kháng sinh đồ để xác định kháng sinh thích hợp có thể dùng để tiêu diệt vi khuẩn.



D. Kháng sinh sử dụng:

Theo các giáo trình mà mình đọc được, thì tình hình kháng thuốc của Pseudomonas aerigunosa đang rất cao. Tuy nhiên, khi tìm ở thư viện trường thì không thấy bất kỳ một công trình nghiên cứu nào đề cập đến tình hình kháng thuốc của Pseudomonas aerigunosa ở DKTW Cần Thơ. Xin các bạn tham khảo một số công trình nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam mà tôi thu lượm được. Kết quả như sau:
a. Bệnh viện Trưng Vương: Tỉ lệ kháng với Imipenem/Cilastatin là khá cao đến hơn 50%, trong khi đó Meroponem chỉ có 18,2%. Một điều đặc biệt là Ceftazidime và Cefepime có mức kháng khá thấp với P.aerigunosa với tỉ lệ lần lượt là 11,1% và 10%.
b. Bệnh viện tỉnh Đắc Lắc: Cephalothin, Cephalexin 100% số chủng kháng; Cefotaxin: 80,00% kháng và chỉ 20% nhạy cảm. Ceftriaxon: 76,48% nhạy cảm; Ceftazidim: 60% nhạy cảm và 40% kháng. Với KS thuộc nhóm Aminosid thì Amikacin cho kết quả cao: 85,29% số chủng nhạy cảm, trong khi đó cũng thuộc nhóm này nhưng Gentamycin lại cho kết quả kém: chỉ 58,06% nhạy cảm còn 41,94% kháng. Có tỷ lệ kháng cao với các kháng sinh thông thường khác như Tetracyclin, Lincomycin (100%) và Amoxillin/Clavu (93,75%). Tỷ lệ đa kháng của các chủng P.aeruginosa cũng khá cao: kháng với 2 KS là 38,2%; 3 KS là 11,18%; 4 KS là 17,6% và 5 KS là 14,7%.
c. Bệnh viện DKTW Thái Nguyên:
Về tỷ lệ kháng kháng sinh:
- 100,0% các chủng đã kháng kháng sinh; tỷ lệ kháng thấp nhất với các kháng sinh nhóm Quinolon và nhóm Aminoglycozid (19,79% đến 20,46 %) (25,26% đến 56,25%); tỷ lệ kháng cao với các kháng sinh khác (48,91% đến 100,0%).
Về mức độ đa kháng kháng sinh và các kiểu cách kháng kháng sinh:
- Mức độ đa kháng kháng sinh: P. aeruginosa kháng ít nhất là 4 loại kháng sinh (1,0%); kháng nhiều nhất là với cả 20/20 loại kháng sinh (13,0%);
Tần suất kháng nhiều nhất là kháng 9 đến 15 loại kháng sinh (10,0% - 11,0%).
d. Nghiên cứu đa trung tâm ở 4 bệnh viện An Bình, Nguyễn Tri Phương, Nhân Dân Gia Định và Đà Nẵng: Imipenem và Polymyxin B là 2 thuốc có tỉ lệ kháng thấp nhất. Tuy nhiên do Polymixin có độc tính cao nên đã không còn được phép sử dụng. Nên 2 kháng sinh được ưu tiên sử dụng là Imipenem và Meropenem.

TLTK:
http://115.org.vn/doc/ksdkkshstccd.pdf
http://www.ctu.edu.vn/workshop/hnkh-.../ttat_tuan.htm
http://www.yhth.vn/LibraryDetail/198...hai-nguyen.htm
http://www.vsmmb.com/data/upload_fil...5/NC19-PHV.pdf