CHỈ ĐỊNH
Soi bàng quang sau khi đã khám lâm sàng,xét nghiệm nước tiểu ,chụp UIV,siêu âm.
-Đái máu.
-Đái mủ.
-Hội chứng bàng quang.
-Viêm bàng quang mạn.
-U bàng quang.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH-Chấn thương đứt niệu đạo.
-Nhiễm trùng đường niệu thấp đang tiến triển.
-Phì đại lành tính tuyến tiền liệt có kích thước to.
-Lao bàng quang.
-U vùng tiểu khung có chèn ép tắc nghẽn đường niệu.
DỤNG CỤ
1.Máy soi bàng quang cứng (kim loại) hoặc mềm(sợi).
Hiện nay máy soi cứng đang được dùng nhiều .Hãng WOLF,OLYMPUS và STORZ có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất máy.
-Thân máy rỗng có các bộ phận:đèn,cửa sổ,giá đỡ,và điều chỉnh catheter,các nhánh lắp nối với nguồn điện,nguồn nước,các nút,điều chỉnh.
-Bộ phận quang học gồm hệ thống lăng kính để tiếp nhận khuếch đại và nhìn được hình ảnh(hình 4.59)với góc nhìn hẹp hoặc rộng .
2.Nguồn ánh sáng lạnh.
3.Nguồn nước tương đối vô trùng và hệ thống dẫn nước vào máy.
4.Catheter các cỡ để chụp thận ngược dòng.
5.Bộ phận sinh thiết.
6.Ống thông 2Y.
7.Giường kiểu khám phụ khoa có thể điều chỉnh lên xuống tự động.
*Tùy theo đường vào có thể lựa chọn tiết niệu gồm:
-Đường dưới lên.Đây là phương pháp cổ điển.Thường dùng nhất là soi bàng quang.Soi niệu đạo,soi niệu quản và soi bể thận ít tiến hành.
-Đường trên xuống:Đấy là soi bể thận.Soi niệu quản ít thực hiện.
Nội soi tiết niệu có thể kết hợp với chụp X-Quang trong U.P.R,tiêm chất màu xanh –methylen hoặc sinh thiết để chẩn đoán.Phương pháp này có thể áp dụng với mục đích điều trị :tán sỏi,cắt u nội soi(bàng quang,u bể thận).
-Tùy người bệnh,khi tiến hành nội soi có thể áp dụng gây mê hay gây tê tại chỗ.
-Trên thực tế hay soi bàng quang còn soi bể thận ít được thực hiện đòi hỏi có máy móc phù hợp,đầy đủ và kỹ thuật viên có nhiều kinh nghiệm.
NIỆU ĐẠO
-Niệu đạo là ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài.Niệu đạo nam gồm ba đoạn,đoạn sau tiếp với bàng quang và xuyên qua tuyến tiền liệt được gọi là đoạn niệu đạo tiền liệt,đoạn giữa đi ở vùng tầng sinh môn nên được gọi là đoạn niệu đạo màng ,đoạn trước nằm trong dương vật nên được gọi là đoạn niệu đạo dương vật .Niệu đạo nữ ngắn và thẳng hơn niệu đạo nam và tương đương với phần sau của niệu đạo nam.Biểu mô ở niệu đạo nam từ cổ bàng quang đến ụ núi giống với biểu mô bàng quang ,từ ụ núi trở ra giống với biểu mô niệu đạo nữ là biểu mô trụ đơn giả tầng ,vì nhân các tế bào không đứng ngang hàng.Lớp đệm có nhiều sợi chun và mao mạch ,rải rác có những tuyến nhầy .Các tuyến phụ thuộc niệu đạo gồm:
-Ở nam có 3 loại tuyến,tuyến Little kiểu túi tuyến nhầy mở vào niệu đạo dương vật.Tuyến Copper nằm ở mặt dưới niệu đạo màng,là những tuyến ống túi,dịch tiết của tuyến giống dịch tiết của tuyến tiền liệt.Tuyến tiền liệt không thuộc hệ tiết niệu nhưng dịch tuyến được đỗ vào niệu đạo ở đoạn niệu đạo tiền liệt.
-Ở nữ có hai loại tuyến ,tương đương với tuyến tiền liệt là tuyến Sken mở ra hai bên lỗ niệu đạo,những tuyến Bartholin tương đương với tuyến Copper là các tuyến tiết nhầy đổ ra âm hộ không liên quan với niệu đạo.
ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA SỎI ĐƯỜNG TIẾT NIỆU DƯỚI
-Lấy sỏi qua ống soi niệu quản
Phương pháp này sử dụng ống soi cứng hoặc ống soi mềm đưa qua niệu đạo lên niệu quản rồi qua đó lấy sỏi ra ngoài.
-người ta có thể lấy sỏi bằng kẹp để gắp sỏi hoặc luồn sỏi vào rọ Dormia kéo ra ngoài.
-Đối với sỏi quá to nhiều khi phải phá vỡ nhỏ sỏi ra bằng sóng xung động siêu âm hoặc laserr rồi lấy sỏi.
PHƯƠNG PHÁP LẤY SỎI QUA ỐNG SOI NIỆU QUẢN
-Nhờ những tiến bộ về quang học và kỹ thuật,vào thập kỷ 80,người ta dần dần sáng tạo các ống soi niệu quản cứng (ureteroscopie rigide)với ống soi niệu quản mềm (ureteroscopie flexible)với khẩu kính nhỏ 6-6,5 charriere để luồn qua niệu quản quan sát viên sỏi và lấy đi,đó là phương pháp”lấy sỏi qua ống soi niệu quản”.
PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
a.Phương pháp vô cảm gây tê tủy sống hoặc gây mê.Nếu có điều kiện gây mê là tốt hơn cả.
b.Tư thế bệnh nhân nằm theo tư thế phụ khoa hay tư thế bàng quang,để có thể làm thủ thuật dễ dàng.
c.Soi kiểm tra:đặt máy soi bàng quang kiểm tra tình trạng bàng quang,niệu đạo,hai lỗ niệu quản,đặc biệt lỗ niệu quản bên có sỏi.
d.Thay máy soi bàng quang bằng máy soi niệu quản cứng hoặc mềm:trường hợp lỗ niệu quản hoặc đoạn đầu niệu quản hẹp không luồn được máy,người ta có thể thăm dò niệu quản bằng chụp thuốc cản quang tại chỗ(tại phòng mổ)rồi luồn dây dẫn vào niệu quản.
Qua dây dẫn tiến hành nong dần niệu quản cho rộng ra bằng hệ thống que nong nhựa hoặc bằng ống thông chất dẻo có bóng để nong rộng (như ống thông Foley nhưng bóng dài hình ống).Nong niệu quản số 6-9 charriere để có thể đặt máy soi niệu quản dễ dàng tới vị trí của sỏi.
e.Lấy sỏi:dùng pince có 2 hoặc 3 ngành gắp viên sỏi ra hoặc luồn dây rọ Dormia để lấy sỏi ra ngoài.
Trường hợp sỏi to phải tán sỏi nhỏ bằng máy tán sỏi thủy điện(hydroelextrique)hay siêu âm,laser rồi lấy hoặc hút các mảnh sỏi vụn.
f.Sau thủ thuật có thể đặt một ống thông hai chữ J và niệu quản để dẫn nước tiểu từ thận vào bàng quang và một ống thông Foleyqua niệu đạo để theo dõi nước tiểu.
BIẾN CHỨNG
a.Thủng niệu quản:Khi đưa ống soi niệu quản nhất là ống soi cứng đi qua chỗ hẹp của niệu quản là đoạn bắt chéo động mạch chậu có thể làm thủng niệu quản.
b.Chảy máu:Khi nong niệu quản hoặc đưa máy vào cơ thể làm thương tổn niêm mạc thành niệu quản gây chảy máu tạm thời.
Trường hợp chảy máu nhiều có thể đặt ống thông hai chữ J ,điều trị kháng sinh và theo dõi.
c.Nhiễm khuẩn:do có nhiễm khuẩn cũ hoặc nhiễm khuẩn do làm thủ tục kéo dài và không vô khuẩn tuyệt đối.Điều trị kháng sinh và theo dõi.
PHƯƠNG PHÁP SOI QUA ỐNG NIỆU QUẢN CÒN ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP:
-Nong và cắt nội soi nơi chít hẹp niệu quản.
-Lấy dị vật ở niệu quản.
-Cắt đốt u niệu quản.
-Đặt ống thông hai chữ J.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH-Sỏi nhiễm khuẩn gây ứ tắc nhiễm khuẩn thận và đoạn trên của niệu quản.
-Khi đường tiết niệu,dưới vị trí của sỏi thận bị chít hẹp không đặt được máy như:
+Hẹp niệu đạo.
+U xơ tuyến tiền liệt chít hẹp niệu đạo.
-Khi có một số bệnh lý như:
+U niệu quản,u bàng quang,u niệu đạo.
+Lao bàng quang,niệu quản.
+Viêm bàng quang,niệu quản,niệu đạo.