Phân tích sự khác nhau giữa Garrot và Tourniquet
1. Các kiến thức cần biết về garo trong sơ cứu
1.1. Garo là gì?
Garo là phương pháp cầm máu tạm thời bằng dây cao su hoặc dây vải xoắn chặt vào đoạn chi bị thương khi chưa có biện pháp nào khác có hiệu quả để làm ngừng sự lưu thông máu từ phía trên xuống phía dưới của chi bằng cách nén các mạch máu.
1.2. Một số lưu ý khi đặt garo
Nếu thực hiện garo không đúng cách có thể làm cả đoạn chi bị hoại tử, phải cắt bỏ.
Khi xoắn chặt một dây garo vào chi, các mạch máu lớn, nhỏ và các cơ đều bị đè ép. Một garo thực hiện đúng yêu cầu kỹ thuật sẽ cắt đứt hoàn toàn sự lưu thông của máu từ trên xuống dưới và ngược lại. Một garo không thể để lâu quá 1 đến 2 giờ vì đoạn chi này sẽ bị hoại tử hoàn toàn nếu bị thiếu máu nuôi quá 60-90 phút, người làm cấp cứu cần ý thức được việc này.
1.3. Cách đặt, nới, tháo garo
1.3.1. Cách đặt garo
- Ấn động mạch ở phía trên vết thương để tạm thời cầm máu.
- Lót vải hoặc gạc ở chỗ định đặt garô hoặc dùng ngay ống quần, ống tay áo để lót.
- Đặt garô và xoắn dần (nếu là dây vải), bỏ tay ấn động mạch rồi vừa xoắn vừa theo dõi mạch ở dưới hoặc theo dõi máu chảy ở vết thương. Nếu mạch ngừng đập hoặc máu ngừng chảy là được. Khi đã xoắn vừa đủ chặt thì cố định que xoắn. Nếu là dây cao su thì chỉ cần cuốn nhiều vòng tương đối chặt rồi buộc cố định.
- Băng ép vết thương và làm các thủ tục hành chính cần thiết.
1.3.2. Cách nới garo
Thứ tự nới garo:
+ Người phụ ấn động mạch ở phía trên garo
+ Người chính nới dây garo, rất từ từ, vừa nới vừa theo dõi sắc mặt thương binh, tình hình máu chảy ở vết thương, mạch và màu sắc đoạn chi ở dưới garo.
+ Để garô nới khoảng từ 4 - 5 phút.
1.3.3. Cách tháo garo
Tiến hành như sau:
- Một người ấn động mạch, một người tháo garô từ từ, nhẹ nhàng.
- Thay garô bằng một biện pháp cầm máu khác như băng ép, băng chèn, kẹp hoặc thắt động mạch... nếu còn thấy chảy máu nhiều.
2. Vấn đề bàn luận: Sự khác nhau giữa Tourniquet và Garrot
Trước khi nói về sự khác nhau ta hãy cùng đề cập đến sự giống nhau giữa hai từ này. Sự giống nhau đó là về mặt ngữ nghĩa trong y học của cả hai đều có nghĩa là dụng cụ để cầm máu tạm thời: Garo và đều là từ tiếng Pháp đã được Anh hóa.
Như vậy đứng trên quan điểm thuật ngữ y khoa để xét thì thật sự khó để phân tích điểm khác biệt giữa chúng bởi chúng đều cùng nói đến một vật dụng .Nhưng nếu xét đến khía cạnh các ngữ nghĩa khác giữa hai từ (Garrot là cái néo hoặc hình phạt thắt cổ; Tourniquet là cửa quay, cửa xoay) thì ta lại có thể suy ra sự khác nhau đầu tiên đó là Garrot ngoài mang nghĩa là dụng cụ cầm máu cứu người nó còn có một nghĩa khác tiêu cực liên quan đến “giết người” còn Tourniquet thì không. Sự khác nhau thứ hai đó là nghĩa sau khi Anh Hóa của hai từ Garrot và Tourniquet, Garrot sau khi Anh hóa được viết là Garrotte, nó chỉ còn lại ý nghĩa tiêu cực của từ gốc và không còn giá trị về mặt thuật ngữ y khoa. Trái lại, từ Tourniquet thì vẫn giữ lại hết ý nghĩa của mình bao gồm giá trị thuật ngữ y học. Sự khác nhau thứ ba đó là cách dùng trong các đoạn văn bản y học tôi có một ví dụ sau đây:
* To evaluate the usefulness of the tourniquet placed at the distal forearm, 30 patients were operated with the tourniquet set at the distal forearm using nerve-block anaesthesia. Pain during surgery, flexion of the fingers, bloodless field, and general complications during surgery and 18 months thereafter were recorded. The mean time of ischemia was 19.6±7.5 (10–50) min. A bloodless field was achieved in all cases, and pain during operation was low. Flexion of the fingers were found in most cases but was reducible and not annoying for the surgeon. There were no serious complications during surgery or at follow-up. The tourniquet placed at the distal forearm is painless, safe, and useful in hand surgery.
*Pour évaluer l’utilité du garrot placé à la partie distale de l’avant-bras, 30 malades ont été opérés avec le garrot dans cette position et une anesthésie par bloc nerveux. La douleur pendant la chirurgie, la flexion des doigts, l’ exsanguinité du champ opératoire et les complications générales pendant la chirurgie et 18 mois ensuite ont été enregistrées. Le temps moyen d’ischémie était de 19,6±7,5 min (10–50). Un champ exsangue a été obtenu dans tous les cas. La douleur pendant l’opération était faible. La flexion des doigts a été notée dans la plupart des cas, mais était réductible et ne gênait pas le chirurgien. Il n’y avait pas de complication sérieuse. Seulement une blessure nerveuse a été suspectée. Le garrot placé à la partie distale de l’avant-bras est indolore, sr et utile dans chirurgie de la main.
Hai đoạn văn bản đề cập đến việc sử dụng garo trong phẫu thuật cánh tay, chúng có nội dung y hệt nhau nhưng được viết bởi hai thứ tiếng đó là tiếng Anh và tiếng Pháp và nếu chúng ta để ý một chút sẽ phát hiện garo trong văn bản tiếng Anh được dùng với từ Tourniquet còn tiếng Pháp là Garrot do đó ta cần có sự linh hoạt ngoại ngữ chuyên nghành để hiểu được hai đoạn văn bản trên. Trên phân tích về sự khác nhau giữa Garrot và Tourniquet ta có thể thấy rằng việc trau dồi ngoại ngữ y khoa là việc hết sức quan trọng nó không chỉ giúp ta thuận lợi trong công việc, trong giao tiếp mà nó còn cho ta một vốn từ phong phú để đọc các sách ngoại văn nước ngoài trau dồi thêm kiến thức biến chúng ta thành những bác sĩ giỏi, chuyên môn vững vàng.
Nguyễn Thiện Bình (YH42)
Tài liệu tham khảo:
https://vi.wiktionary.org/wiki
http://link.springer.com/article/10....264-004-0582-x
https://fr.wikipedia.org/wiki/Garrot
http://bachmai.edu.vn/460/print-article.bic