UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

1. Đại cương:

Ung thư cổ tử cung (CTC) là loại ung thư thường gặp ở phụ nữ, chiếm khoảng 12% của tất cả các ung thư ở nữ giới. Tuổi trung bình phụ nữ bị ung thư CTC xâm lấn là 48-52 tuổi.

Phụ nữ nhiễm Human papiloma virus (HPV) nguyên nhân hàng đầu gây ung thư cổ tử cung, đặc biệt khi nhiễm HPV týp 16 và 18. Đây là một bệnh lây qua đường tình dục, ước tính có 50-80% phụ nữ sẽ có nhiễm HPV trong cuộc đời. Sự tái nhiễm nhiều lần chủng HPV nguy cơ cao làm các tổn thương tân sinh trong biểu mô trở nên không điển hình và tiến triển đến ung thư cổ tử cung xâm lấn.

Các yếu tố khác phối hợp gây ung thư cổ tử cung là:
(1) Hoạt động tình dục sớm.
(2) Có nhiều bạn tình.
(3) Vệ sinh sinh dục kém.
(4) Hút thuốc lá.
(5) Suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV, AIDS).

*Nhắc lại giải phẫu cổ tử cung

Cổ tử cung là phần dưới của tử cung, lộ vào trong âm đạo. Cổ tử cung dài 2,5 đến 3cm ở phụ nữ chưa sinh đẻ. Cổ tử cung chếch ra sau và xuống dưới.

Phần cổ tử cung nằm trong âm đạo được gọi là cổ ngoài, có bề mặt lồi và đường giới hạn bởi các cùng đồ trước và sau âm đạo. Ở trung tâm là lỗ cổ ngoài trên ở phụ nữ chưa sinh và có dạng miệng cá ở phụ nữ chưa sinh. Phần này được chia làm môi trước và môi sau.

Lỗ cổ ngoài thông thương với eo tử cung qua kênh cổ tử cung. Kênh này có hình bầu dục, nơi rộng nhất là 0,8 cm và có các nếp gấp niêm mạc dọc.

Các động mạch cổ tử cung là những nhánh của động mạch tử cung. Ở cổ ngoài, các tiểu động mạch đi thẳng góc với bề mặt niêm mạc cổ tử cung. Ở cổ trong, các tiểu động mạch chạy gần song song với bề mặt.

Mạch limphô cổ tử cung xuất phát từ hai lớp, dưới lớp nội mạc và sâu trong mô sợi, đổ vào hai lưới limphô vùng eo tử cung và đến các hạch: hạch chậu ngoài, hạch bịt, hạch hạ vị, hạch chậu chung, hạch thiêng và hạch mặt sau bàng quang.

Hệ thần kinh thuộc hệ thần kinh thực vật vùng chậu, có chủ yếu ở cổ trong và phần ngoại vi sâu ở cổ ngoài.


*Nhắc lại mô học cổ tử cung

Cổ tử cung được bao phủ bởi hai lớp thượng mô: thượng mô gai cổ ngoài và thượng mô trụ cổ trong.

Thượng mô gai cổ ngoài nhạy cảm với các nội tiết tố steroid. 17b-estradiol kích thích sự tăng sản, sự trưởng thành và sự tróc các tế bào. Tế bào được thay thế mỗi bốn đến sáu ngày.

Progesterone ức chế sự trưởng thành tế bào và làm tế bào tróc ra chậm.

Thượng mô gai gồm nhiều lớp tế bào:
Lớp đáy với các tế bào vuông, nhân bầu dục lớn, có trục thẳng đứng với màng đáy.

Lớp cận đáy với vào lớp tế bào bầu dục hay đa diện, đường kính 15-25 micrômét, tế bào này nối với tế bào kia bằng các cầu liên bào và bắt đầu có tạo glycogen. Hai lớp đáy và cận đáy ái kiềm và có phân chia tế bào.

Lớp gai Malpighi gồm 6-12 lớp tế bào sáng, bào tương nhiều, chứa glycogen, có cầu liên bào rõ rệt, là lớp chủ yếu.

Lớp bề mặt với nhiều lớp tế bào dẹt, nhiều bào tương, đường kính đến 50 micromét, nhân vón, nhỏ. Bào tương ái toan, ưa eosin, chứa nhiều glycogen. Các tế bào trên cũng có thể chứa những keratinosomes là chất tiền keratin.

Thượng mô gai cổ ngoài bình thường rất giàu glycogen và có màu nâu sậm khi được phết với dung dịch iod. Đó là xét nghiệm Schiller. Các ổ tăng sản tế bào và bạch sản không ăn màu iod vì không chứa glycogen.

Thượng mô cổ ngoài cũng thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt: tăng sản, trưởng thành và tróc đi.

Thượng mô trụ lót kênh cổ tử cung và các khe tuyến, gồm một lớp tế bào trụ cao, nhân nằm ở đáy, bào tương có nhiều chất nhầy ưa phẩm nhuộm alcian blue. Thượng mô nhầy thuộc loại đỉnh tiết.

Thượng mô trụ cũng thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt, nhân ở giữa tế bào trong giai đoạn phát triển, ở đáy tế bào trong đầu giai đoạn chế tiết.

Chất tiết nhầy nhiều, lỏng, có thể làm tăng pH âm đạo. Bình thường, âm đạo có pH acid (4-5,5) trong giai đoạn phát triển, sau rụng trứng, chất nhầy ít đi, đặc quánh và chứa nhiều bạch cầu.

Sự tái tạo các tế bào trụ xảy ra liên tục từ các tế bào dự trữ. Mô đệm cổ trong cổ tử cung có thể có các đám nêvi-bào chứa mêlanin và các thực bào ăn mêlanin.
Lúc có thai, các khe tuyến phát triển nhiều và sau sinh có thể thoái triển hình thành nang còn gọi là trứng Naboth.
Ở người sinh nhiều con, các khe tuyến có thể xuống sâu đến 9mm.
Vùng tiếp giáp gai-trụ là nơi thượng mô trụ giao tiếp với thượng mô gai.
Vị trí vùng tiếp giáp gai-trụ thay đổi theo tuổi.
Vùng biến đổi hay tiếp giáp trụ gai có thể đột ngột hoặc kéo dài 2 đến 4 mm, với lớp thượng mô gai bề mặt và các tuyến nhầy và nang Naboth ở dưới mô đệm.

2. Mô bệnh học:
a. Đại thể: có 3 dạng
(1) Dạng sùi, thường gặp nhất, mọc từ cổ tử cung ngoài, sùi lên thành một khối như bông cải to rộng, bở, dễ chảy máu. Đôi khi dạng này phát xuất từ trong kênh cổ tử cung làm căng to cổ tử cung và kênh cổ tử cung, biến cổ tử cung thành dạng bầu dài căng như thùng rượu.
1.jpg
Hình 1. Hình ảnh ung thư cổ tử cung dạng sùi
(2) Dạng chai xâm nhiễm cổ tử cung biến cổ tử cung thành cứng như đá.
2.jpg
Hình 2. Hình ảnh ung thư cổ tử cung dạng chai xâm nhiễm
(3) Dạng loét, làm mất cổ tử cung và phần trên của âm đạo tạo thành một hố sâu lõm.
3.jpg
Hình 3. Hình ảnh ung thư cổ tử cung loét
b. Vi thể:

- Ung thư biểu mô kép dẹp gai 90-95%
- Ung thư biểu mô tuyến 5-10%, tiên lượng xấu hơn ung thư tế bào gai

2. Sự phát triển lan rộng và di căn của ung thư cổ tử cung:
- Lan theo bề mặt: lan đến eo tử cung, xuống âm đạo, lan lên mặt trước âm đạo, sang bàng quang, có thể thủng gây dò bàng quang âm đạo, lan sang trực tràng gây dò trực tràng âm đạo- Lan đến dây chằng rộng 2 bên, dây chằng tử cung cùng, chèn ép niệu quản.
- Di căn theo đường bạch huyết: đến các hạch nằm dọc các mạch chậu
đến cạnh động mạch chủ
- Lan rộng theo đường máu: gây di căn các tạng trong ổ bụng, phổi, màng phổi

3. Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng cơ năng:
a. Giai đoạn tại chỗ, giai đoạn vi xâm nhập: Bệnh thường không có biểu hiện lâm sàng gì đặc biệt Chỉ có thể được chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học
b. Giai đoan ung thư xâm nhập:
- Chứng đầu tiên đó là ra máu âm đạo bất thường: ra máu sau giao hợp, ra máu sau mãn kinh. Ra dịch nhầy âm đạo màu vàng, hoặc lẫn máu, có mùi hôi
- Khi ung thư lan rộng:
+ Đau vừa phải trong quá trình quan hệ tình dục và tiết dịch âm đạo
+ Rò rỉ nước tiểu hoặc chất cặn từ âm đạo
+ Triệu chứng chén ép: đau hông, đau thắt lưng, phù chi
+ Xâm lấn bàng quang: đái máu, đi tiểu bị đau hoặc khó khăn, nước tiểu đục
+ Xâm lấn trực tràng: đi ngoài ra máu, hay táo bón mãn tính và cảm giác về sự hiện diện của phân mặc dù ruột không còn gì
+Triệu chứng toàn thân: mệt mỏi, gầy sút, thiếu máu
Triệu chứng thực thể:
- Tổng trạng: sụt cân chỉ có trong giai đoạn muộn, có thể khám thấy được hạch bẹn, hạch thượng đòn, phù chân, báng bụng, tràn dịch màng phổi hoặc gan to.
- Khám cổ tử cung:
o Khám ở giai đoạn sớm thấy cổ tử cung bình thường nếu u nằm trong kênh cổ tử cung. Nếu tổn thương nằm ở cổ ngoài mới thấy được một trong 3 dạng đại thể đã kể trên.
o Đặt mỏ vịt thấy cổ tử cung bở, dễ chảy máu, dịch trong âm đạo loãng đục như mủ, có lẫn máu. Tổn thương có thể lan rộng làm cứng thành âm đạo. Cổ tử cung có thể bị biến dạng hoặc chiếm hết bởi khối u.
o Thăm khám âm đạo luôn luôn bao gồm cả thăm âm đạo-trực tràng để xem độ lan tràn của ung thư tới túi cùng âm đạo, thành âm đạo trực tràng, chu cung và độ di động của tử cung, đôi khi sờ được hạch xâm lấn ở thành chậu.

4. Tam chứng bi thảm:
- Đau
- Vô niệu
- Phù 1 chân
Do ung thư lan tràn vào dây thần kinh, xương hoặc cơ, gây ra cơn đau dữ dội vùng hông lưng.
Trong một số trường hợp khối u có thể di căn niệu quản, ngăn chặn dòng chảy của nước tiểu từ thận xuống. Sự tích tụ của nước tiểu bên trong thận được gọi là ứ nước và có thể gây ra cho thận trở nên sưng và kéo dài, gây vô niệu. Trường hợp nghiêm trọng có thể gây ra ứ nước thận dẫn đến chức năng của thận và suy thận với một loạt các triệu chứng như mệt mỏi, phù mắt cá chân, bàn chân hoặc tay do giữ nước, khó thở, tiểu ra máu hay vô niệu.
Thêm nữa ung thư cổ tử cung cũng như loại ung thư khác có thể làm cho máu dễ kết tập dễ bị hình thành cục máu đông hay khối u lớn có thể nhấn vào các tĩnh mạch trong khung chậu , mà làm chậm dòng chảy của máu và có thể dẫn đến đông máu ở chân gây nên các triệu chứng như đau và sưng 1 chân hay vùng bị ảnh hưởng, nóng da, đỏ da đặc biệt là ở mặt sau của chân, dưới đầu gối. Nguy hiểm hơn là cục máu đông từ tĩnh mạch chân sẽ theo dòng tuần hoàn về phổi dẫn đến thuyên tắc phổi và có thể gây tử vong.
Nếu ung thư lây lan vào âm đạo , ruột hoặc bàng quang sẽ dẫn đến chảy máu gây tiêu ra máu hay tiểu ra máu.
Hình thành lỗ rò là một biến chứng hiếm gặp nhưng rất nặng nề khoảng 1 trong 50 trường hợp ung thư cổ tử cung .Lỗ rò là một kênh bất thường phát triển giữa hai phần của cơ thể. Trong hầu hết các trường hợp liên quan đến ung thư cổ tử cung, lỗ rò phát triển giữa bàng quang và âm đạo. Gây rò rỉ nước tiểu hoặc chất cặn từ âm đạo. Đôi khi một lỗ rò phát triển giữa âm đạo và trực tràng.

5. Chẩn đoán giai đoạn bệnh theo TNM và FIGO
TNM FIGO
Tx Không đánh giá được u nguyên phát
T0 Không có bằng chứng về khối u nguyên phát
Tis 0 Ung thư tại chỗ
T1 I Ung thư khu trú tại CTC
T1A I1A Ung thư xâm lấn tiền lâm sàng
T1A1 IA1 Xâm nhập dưới lớp màng đáy ≤ 3mm, rộng ≤ 7mm
T1A2 IA2 Xâm nhập dưới lớp màng đáy ≤ 5mm, rộng ≤ 7mm
T1B IB Tổn thương khu trú ở CTC chưa lan đến các túi cùng
T1B1 IB1 Đường kính lớn nhất của tổn thương ≤ 4cm
T1B2 IB2 Đường kính lớn nhất của tổn thương > 4cm
T2 II Ung thư xâm lấn quá CTC nhưng chưa đến thành
khung xương hay chưa tới 1/3 dưới âm đạo
T2A IIA Chưa xâm lấn parametre
T2B IIB Xâm lấn parametre
T3 III Ung thư ăn lan đến thành khung xương chậu hoặc
tới 1/3 dưới âm đạo hoặc dẫn đến thận ứ nước
T3A IIIA Ung thư ăn lan đến 1/3 dưới âm đạo không
lan đến thành khung chậu
T3B IIIB Ung thư lan đến thành khung chậu hoặc gây thận
ứ nước hoặc mất chức năng
T4 IVA Ung thư xâm lấn bàng quang, trực tràng hoặc
lan ra ngoài khung chậu

Di căn hạch vùng (gồm hạch quanh CTC, parametre, hạch hố bịt, hạch chậu gốc, chậu trong, chậu ngoài, trước xương cùng).
Nx Không đánh giá được di căn hạch vùng
N0 Không di căn hạch vùng
N1 Di căn hạch vùng

Di căn xa
Mx Không đánh giá được di căn xa
M0 Không có di căn xa
M1 IVB Di căn xa

Các phương pháp phân loại giai đoạn này chỉ áp dụng cho các ung thư biểu mô cổ tử cung.

4.jpg
6. Cận lâm sàng chẩn đoán

6.1. Ung thư CTC giai đoạn tại chỗ và vi xâm lấn, dựa vào
- Phiến đồ âm đạo
- Soi cổ tử cung và sinh thiết cổ tử cung để chẩn đoán giải phẫu bệnh
- Nạo ống CTC: nếu bệnh nhân có phiến đồ âm đạo bất thường, soi CTC không thấy tổn thương, cần tìm tổn thương nghi ngờ trong ống CTC bằng nạo ống CTC.
- Khoét chóp CTC: xét nghiệm mô bệnh học phần bệnh phẩm khoét chóp cho phép đánh giá mức độ xâm nhập mô đệm của CTC



* Pap smear :
- Phương pháp Pap smear đã được thực hiện trên toàn thế giới trong hơn 50 năm qua, là phương pháp thường quy trong sàng lọc định kỳ cho phụ nữ ở các nước phát triển, góp phần giảm tới 70-80% ca UTCTC tại các nước này từ những năm 1960.

- Pap smear (tức là xét nghiệm Pap) là một xét nghiệm tế bào học để tìm những tế bào bất thường trong lớp biểu mô cổ tử cung. Mục đích của việc này là để phát hiện ung thư cổ tử cung- một bệnh lý ác tính rất thường gặp ở phụ nữ, nhất là ở các nước đang phát triển.

- Đây là một xét nghiệm đơn giản, thường được thực hiện ở các phòng khám phụ khoa, và là bước đầu tiên trong bộ ba xét nghiệm dùng để tầm soát đồng thời cũng để chẩn đoán ung thư cổ tử cung

- Cách đọc kết quả một xét mẫu tế bào cổ tử cung cũng khá phức tạp với một số phân loại khác nhau.

Đối tượng làm xét nghiệm

Xét nghiệm Pap là một phần của chăm sóc sức khỏe định kỳ, áp dụng ở phụ nữ đã có quan hệ tình dục, bắt đầu từ độ tuổi 21

Những phụ nữ đã mãn kinh vẫn còn cần xét nghiệm Pap thường xuyên.

Nên làm xét nghiệm Pap smear như sau:

- Bắt đầu ở tuổi 21, nên thử nghiệm Pap mỗi 2 năm .

- Nếu phụ từ 30 tuổi trở lên và đã có 3 xét nghiệm Pap bình thường trong 3 năm liên tiếp -> xét nghiệm Pap mỗi 3 năm tiếp theo.

- Nếu phụ nữ trên 65 tuổi, hãy hỏi bác sĩ của bạn nếu bạn có thể có xét nghiệm Pap, có thể dừng lại sau khi ít nhất 3 xét nghiệm Pap bình thường và không có kết quả bất thường trong 10 năm qua.

Điều kiện làm xét nghiệm

- Bệnh nhân không đặt thuốc âm đạo, không giao hợp, không thụt rửa âm đạo trong 24-48 giờ trước đó.

- Không làm khi có tình trạng viêm nhiễm âm đạo, cổ tử cung nặng, cấp tính, hoặc khi có tình trạng xuất huyết âm đạo, tử cung.

- Làm trong lúc không hành kinh (tốt nhất là làm vào ngày thứ 15-20 của chu kỳ kinh nguyệt.
5.jpg
6.2 Ung thư CTC giai đoạn xâm nhập
+ Hình ảnh tổn thương tại CTC: U thể sùi, U thể sùi loét, U thể loét U thể thâm nhiễm
+ Đánh giá kích thước u + Mức độ xâm lấn cùng đồ, âm đạo + Di căn âm đạo + Sinh thiết u chẩn đoán mô bệnh học

* Chụp cộng hưởng từ có từ trường cao 1,5 Tesla

Đánh giá được các yếu tố :
+ kích thước khối u
+ Mức độ xâm lấn của u vào cơ cổ tử cung
+ Đáy dây chằng rộng
+ Thành bên các tiểu khung
+ Các tạng lân cận (bàng quang, trực tràng)
+ Xâm lấn vào ống âm đạo

Phương pháp này có vai trò quyết định chiến lược điều trị Ung thư CTC, giúp đánh giá được giai đoạn của bệnh theo bảng phân giai đoạn của Hiệp hội sản phụ khoa quốc tế (FIGO- International Federation of Gynecology and Obstetrics) mà trên thế giới hiện đang dùng

Hình ảnh các giai đoạn UTCTC trên CHT 1.5 Tesla:

- Tổn thương ung thư giai đoạn tiền lâm sàng, khi khối u xâm lấn ở mức độ vi thể thường kín đáo vào hay có âm tính giả trên CHT, nếu có chỉ thấy u rất nhỏ tăng tín hiệu trên T2, trong ống cổ tử cung, lớp cơ thành cổ tử cung giảm tín hiệu còn nguyên vẹn, cân đối. Trong trường hợp trên, soi cổ tử cung và sinh thiết có u, không rõ trên CHT trên T2 thì nên tiêm đối quang từ. Cũng chính vì vậy theo các tác giả nước ngoài, những trường hợp khối u trên lâm sàng dưới 2cm có thể cân nhắc chỉ định chụp CHT.

- Tổn thương giai đoạn lâm sàng phá vỡ lớp cơ giảm tín hiệu thành cổ tử cung, nhưng vẫn còn một viền giảm tín hiệu bao quanh u.

- Tổn thương giai đoạn ung thư phát triển ra ngoài cổ tử cung, chỉ ở 2/3 trên âm đạo và chưa tới thành bên tiểu khung.

- Tổn thương giai đoạn ung thư phá vỡ hình giảm tín hiệu của thành ống âm đạo tới đoạn 1/3 dưới âm đạo hoặc u lan tới thành tiểu khung, xâm lấn cơ bịt trong, cơ lê, cơ nâng hậu môn hoặc u gây giãn niệu quản.

- Tổn thương giai đoạn cấu trúc tín hiệu tổ chức u lan vào gây mất hình ảnh giảm tín hiệu thành bàng quang hay thành trực tràng hoặc di căn xa vào các tạng hay cấu trúc giải phẫu khác.

Các dấu hiệu di căn hạch, di căn xa có thể phát hiện trên chuỗi xung T2 FatSat trên các lát cắt qua ổ bụng ở mức cao hơn.

6.3 Các xét nghiệm thăm dò khác
+ Soi bàng quang để đánh giá xâm lấn bàng quang
+ Soi trực tràng để đánh giá xâm lấn trực tràng
+ Chụp UIV: xem niệu quản có bị đè ép
+ Chụp bạch mạch cho phép đành giá tình trạng di căn hạch
+ Chụp X quang phổi đánh giá tình trạng di căn phổi
+ Chụp CT. Scan hoặc MRI bụng và tiểu khung để đánh giá tình trạng di căn hạch và mức độ xâm lấn tiểu khung
+ Xét nghiệm chất chỉ điểm khối u SCC-Ag (Squamous Cell Carcinoma Angtigen) để tiên lượng bệnh, đánh giá kết quả điều trị và theo dõi tái phát, di căn sau điều trị.

7. Điều trị
Chỉ định điều trị ung thư CTC phụ thuộc vào giai đoạn bệnh

7.1. Ung thư CTC giai đoạn tại chỗ (in situ):
Phụ nữ trẻ có nhu cầu sinh con: khoét chóp CTC và theo dõi. Các trường hợp khác: cắt tử cung toàn bộ

7.2. Ung thư CTC giai đoạn IA1: ¬
Phụ nữ trẻ có nhu cầu sinh con: khoét chóp CTC, kiểm tra diện cắt. + Nếu không còn ung thư tại diện cắt: theo dõi. + Nếu còn tổn thương tại diện cắt: cắt tử cung toàn bộ. Các trường hợp khác: cắt tử cung toàn bộ

7.3. Ung thư CTC giai đoạn IA2:

Bệnh nhân còn trẻ có nhu cầu sinh con: Khoét chóp CTC và vét hạch chậu 2 bên. Kiểm tra mô bệnh học tại tra diện cắt và hạch chậu. + Không còn ung thư tại diện cắt và chưa di căn hạch: theo dõi. + Còn ung thư tại diện cắt: cắt tử cung toàn bộ. + Di căn hạch chậu: Xạ trị hệ hạch chậu Các trường hợp khác: cắt tử cung toàn bộ và vét hạch chậu hai bên, Nếu xét nghiệm mô bệnh học có di căn hạch chậu: xạ trị tiểu khung sau mổ 50-55 Gy.

7.4. Ung thư CTC giai đoạn IB-IIA:

7.4.1. Phương pháp phẫu thuật Chỉ định: + Phụ nữ trẻ cần bảo tồn buồng trứng + Kích thước u ≤ 2 Cm Phương pháp phẫu thuật: Phương pháp Wertheim Meig typ 3 (phân loại Piver và Rutledge1974). Cắt tử mở rộng (Cắt rộng Parametre ngoài niệu quản) Vét hạch chậu 2 bên.

7.4.2. Phương pháp xạ trị kết hợp phẫu thuật: áp dụng với u mọi kích thước Xạ trị tiền phẫu: U < 4 Cm: xạ áp sát (Cs 137) liều tại A 65-70 Gy. U ≥ 4 Cm: xạ ngoài nhằm thu nhỏ u, liều toàn khung chậu 20-30 Gy. Sau đó xạ áp sát (Cs 137), liều tại A 65-70 Gy.
Phẫu thuật: + Được tiến hành sau nghỉ xạ trị 4 đến 6 tuần + Phẫu thuật cắt tử cung mở rộng và vét hạch chậu 2 bên (phẫu thuật Wertheim-Meig typ I hoặc II: cắt Parametre phía trong hoặc tới niệu quản)
Xạ trị hậu phẫu: Nếu diện cắt âm đạo, Parametre hoặc CTC còn ung thư: Xạ áp sát mỏm cụt âm đạo, liều 25-30 Gy. Có di căn hạch chậu: Xạ ngoài nâng liều tại vùng chậu lên 50-55 Gy (che trì vùng giữa tiểu khung).

7.4.3. Phương pháp xạ trị triệt căn
Tổng liều tại hệ hạch: 50-55 Gy Tổng liều tại điểm A: 80-85 Gy

7.5. Ung thư CTC giai đoạn IIB-III:

7.5.1. Phương pháp xạ trị triệt căn Xạ ngoài với liều 30-40 Gy. U thu nhỏ thì xạ áp sát (Cs 137) tổng liều điểm A 80-90 Gy. Sau đó xạ ngoài bổ xung thêm 20-25 Gy, che trì vùng CTC, nâng liều tại khung chậu lên 55-60 Gy. Có thể xạ trị hạch chủ bụng liều 40-45 Gy.

7.5.2. Phương pháp hóa trị kết hợp xạ trị

7.5.2.1. Hóa xạ trị đồng thời
Thường truyến Cisplatin với liều 40 mg/m2 da, tuần một lần, trong 5 tuần. Sau khi truyền xong 2 giờ bệnh nhân có thể tiếp tục xạ trị Kết hợp xạ trị ngoài vào khung chậu và xạ áp sát. Liều xạ toàn tiểu khung 50 Gy, áp sát nâng liều tại A lên 65 Gy

7.5.2.2. Hóa xạ trị xen kẽ Hóa trị liệu: thường dùng các phác đồ có 5 FU + Cisplatin Liều lượng: + 5FU 750 mg/m¬¬¬2 da/ngày 1-6 + Cisplatin 75 mg/m2 da ngày 1 + Giữa các đợt nghỉ 21 ngày Sau hóa trị liệu 3 đến 4 đợt chuyển xạ trị Xạ trị toàn tiểu khung 50 Gy, áp sát nâng liều tại A lên 65 Gy. Sau đó cân nhắc truyền thêm 2 đến 3 đợt hóa chất sau xạ trị

7.6. Ung thư CTC giai đoạn IV

7.6.1. Ung thư xâm lấn bàng quang hoặc trực tràng Còn khả năng phẫu thuật: + Phẫu thuật vét đáy chậu trước, + Phẫu thuật vét đáy chậu sau + Phẫu thuật vét đáy chậu toàn bộ + Sau đó kết hợp hóa trị và xạ trị sau mổ Không còn khả năng phẫu thuật: Hóa xạ trị kết hợp, liều được xác định trên từng bệnh nhân cụ thể.

7.6.2. Ung thư di căn xa: Tùy thuộc vào từng bệnh nhân cụ thể mà có thể cân nhắc kết hợp hóa xạ trị hoặc chỉ điều trị nâng đỡ và chăm sóc triệu chứng đơn thuần.

8. Tiên lượng
Sống trên 5 năm 100% với K trong biểu mô.
80% với I, IIa
50% với IIb
35% với III
5 đến 10% với gđ IV
Nguồn tài liệu tham khảo
http://yhvn.vn/tai-lieu/benh-hoc-co-tu-cung
http://ycantho.com/qa/showthread.php...2m-l%E1%BA%A5n
http://benhvienk.com/tin-tuc/danh-ch...thu-co-tu-cung
http://hpvinfo.vn/tieng-viet/trang-c...c6560i9375.htm
http://www.ungthu.net.vn/ung-thu-co-tu-cung
http://www.dieutri.vn/bggiaiphaubenh...-phau-benh.htm
http://www.benh.vn/Benh-PhuNu/Dau-hi.../4-12-2011.htm
http://suckhoenet.com/news/16357_Phu...co-tu-cung.htm
http://www.nhs.uk/Conditions/Cancer-...lications.aspx
http://www.gyncancer.com/cervix.html