RHESUS
1. Lịch sử phát hiện:
Nhóm máu Rh do Lansteiner phát hiện năm 1940 qua thí nghiệm sau: Lansteiner và Levine lấy hồng cầu (HC) của loài khỉ Macacus Rhesus tiêm cho thỏ. Sau một thời gian trong huyết thanh thỏ có chất kháng thể kháng HC khỉ M.Rhesus.
Khi trộn lẫn HC khỉ với kháng thể này trên phiến kính thấy có hiện tượng phản ứng kết tủa (ngưng kết). Dùng kháng thể kháng HC Rhesus này đem thử với người thì thấy khoảng 85% người da trắng có phản ứng dương tính (gọi là người có nhóm máu Rh+, trên bề mặt HC có kháng nguyên Rh), còn lại khoảng 15% là Rh- ( trên bề mặt HC không có kháng nguyên Rh).
Năm 1943 người ta đã phát hiện 4 kháng thể chống lại 4 kháng nguyên thuộc hệ Rh, trong đó có 2 kháng nguyên liên quan được đặt tên là C và c còn 2 kháng nguyên khác không liên quan được đặt tên là D và E.
Năm 1945 Mourant phát hiện kháng thể chống e , e là kháng nguyên liên quan với E.
Hiện nay đã phát hiện ra khoảng 50 kháng nguyên khác nhau.

2. Cách đặt tên:
• Có 4 hệ thống thuật ngữ để mô tả hệ Rh
– DCE của Fisher-Race
– Rh-Hr của Wiener
– Sử dụng chữ số của Rosenfield và cộng sự
– Hiệp hội truyền máu quốc tế (ISBT)

*Thuật ngữ DCE của Fisher-Race
• KN hệ Rh được mã hoá bởi 3 cặp allele (Dd, Cc, Ee) hiện diện trên 3 locus liên kết chặt chẽ với nhau.
• Mỗi gen tạo ra một KN.
• Fisher và Race đặt tên các kháng nguyên là D, d, C, c, E, e tương ứng với 6 gen D, d, C, c, E, e. – Chưa phát hiện ra kháng nguyên d, do đó allele d được xem là allele im lặng (không có kiểu hình).
• Các gen Rh là đồng trội, do đó kiểu hình (nhóm máu) là do sự có mặt hay không các allele D, C, c, E, e
• Có tám Haplotype sau: Dce, DcE, dce, Dce, dCE, dCe, DCe, dcE, mỗi cá thể thừa hưởng một haplotype của cha và một haplotype của mẹ.
*Thuật ngữ Rh-Hr của Wiener:
• Wiener cho rằng gen chịu trách nhiệm cho việc xác định Rh tạo ra ngưng kết nguyên có các yếu tố nhóm máu (blood factors).
• Theo hệ thống thuật ngữ Rh-hr thì gen Rh này tạo ra ít nhất 3 yếu tố.
– Ngưng kết nguyên = kiểu hình của haplotype
– các yếu tố = kháng nguyên.
• Thuật ngữ Wiener phức tạp và khó sử dụng.

*Thuật ngữ sử dụng chữ số của Rosenfield và cộng sư:
Đầu năm 1960, Rosenfield và cộng sự đề xuất cách dùng chữ số để đặt tên hệ nhóm máu Rh dựa vào sự hiện diện hay không của kháng nguyên Rh trên màng hồng cầu,
– Dấu trừ đứng trước chữ số thể hiện kháng nguyên đó không có mặt.
– Nếu kháng nguyên nào chưa xác định sẽ bỏ qua số đó.
• Đối với 5 kháng nguyên Rh chính: D ký hiệu là Rh1, C là Rh2, E là Rh3, c là Rh4, e là Rh5.
• Ví dụ: kiểu gen DCe/dce sẽ ký hiệu là Rh: 1,2-,3,4,5
• Hệ thống thuật ngữ này rất phù hợp với việc xử lý bằng máy điện toán. Tuy nhiên nó có hạn chế là giống với cách đánh số của một số hệ nhóm máu khác như Kell, Duffy, Kidd (do đó phải có chữ Rh ở trước)
*Thuật ngữ của Hiệp hội truyền máu quốc tế (ISBT) :
Sử dụng hệ thống 6 chữ số: 3 chữ số đầu thể hiện nhóm máu, 3 chữ số sau thể hiện kháng nguyên của nhóm máu đó.
• Nhóm máu Rh được quy định bằng số 004.
• Khi nói đến kháng nguyên Rh của một người thì sẽ ký hiệu tương tự như Rosenfield. Ví dụ một người DccEe được ký hiệu là RH:1,-2,3,4,5

3. Kháng nguyên:
a) Cấu trúc
• Kháng nguyên Rh là một polypeptid xuyên màng và là một phần của màng hồng cầu, xuất hiện trên hồng cầu từ tuần thứ 6 của thai kỳ.
• Hiện nay người ta cho rằng chỉ có 2 gen trên NST số 1 liên kết chặt chẽ với nhau để kiểm soát kháng nguyên Rh
– gen thứ nhất là RhD mã hoá kháng nguyên D
– gen thứ hai là RhCE mã hoá cho các kháng nguyên CE, Ce, cE, ce.
• Các kháng nguyên hệ Rh muốn biểu hiện trên màng hồng cầu phải có RhAG (là một glycoprotein liên kết với Rh, do gen RhAG nằm trên NST số 6 mã hóa).
• Kháng nguyên D: là những epitope của RhD protein, có ít nhất là 37 epitope. Kháng nguyên D là kháng nguyên có tính miễn dịch mạnh nhất có 2 nhóm:
– D dương hay Rh dương
– D âm (không có D) hay Rh âm.
• Người Việt Nam D dương chiếm >99,9 %
• Người da trắng D dương chiếm khoảng 85%.
pe.
Kháng nguyên D
• Tính đa dạng của kháng nguyên Rh: Có khoảng gần 50 kháng nguyên Rh, các biến thể này thường do sự sắp xếp lại thứ tự trước sau của gen RHCE và/hoặc
RHD, hay do đột biến gen (thay đổi hay xóa nucleotid). Tuy nhiên 5 kháng nguyên chính (D, C, c, E, e) và các kháng thể tương ứng của chúng chịu trách nhiệm hơn 99% các vấn đề lâm sàng liên quan đến nhóm máu Rh

b) Kháng nguyên D yếu:
• Kháng nguyên D yếu chủ yếu được phát hiện bằng NP Coomb gián tiếp.
• Có 3 cơ chế giải thích hiện tượng này:
– Đột biến gen tạo ra gen mã hoá kháng thể D yếu (cấu trúc KN D bình thường nhưng có ít vị điểm kháng nguyên trên hồng cầu).
– Allele D và C ở 2 haplotype khác nhau, ví dụ như Dce/dCe
– Kháng nguyên D dạng khảm: trong trường hợp này, một hay nhiều phần của kháng nguyên D bị thiếu hụt. Người D yếu trong trường hợp này có thể tạo ra kháng thể anti-D khi được truyền máu từ những người D (+). Những bà mẹ có KN D yếu loại này cũng có thể tạo anti-D nếu người con là D (+), cần phải được phòng ngừa bằng Rh Immunoglobulin
c) Rhnull:
• Đây là một kiểu hình đặc biệt hiếm gặp và thường do kết hôn cùng huyết thống, trên bề mặt hồng cầu không có kháng nguyên Rh.
• KN Rh là một trong những thành phần cấu tạo của màng hồng cầu nên tất cả các kiểu hình Rhnull đều dẫn đến tình trạng bệnh lý gọi là "bệnh Rhnull", biểu hiên thiếu máu tan máu nhẹ.
• Có 2 loại Rhnull :
– Rhnull vô định hình: do sự đột biến gen RhCE và không có gen RhD.
– Rhnull điều hoà: do đột biến gen RhAG.
• Những bệnh nhân Rhnull khi cần truyền máu thì phải chọn máu Rhnull, vì nếu truyền máu có kiểu hình khác thì sẽ có thể tạo ra nhiều kháng thể Rh xuất hiện cùng một lúc và khi đó thì chỉ có máu Rhnull mới đáp ứng được cho bệnh nhân này.

4. Kháng thể hệ Rhesus:
• Kháng thể Rh hầu hết đều xuất hiện do truyền máu và mang thai bất thuận hợp.
• Kháng nguyên Rh là loại kháng nguyên có khả năng tạo miễn dịch mạnh, chỉ cần khoảng 1ml máu Rh(+) đã có thể kích thích tạo kháng thể ở người Rh(-).
• Kháng thể Rh chủ yếu là IgG, hoạt động tối ưu ở 370C.
• Kháng thể Rh tồn tại trong cơ thể nhiều năm.
• Kháng thể Rh không kết hợp với bổ thể, => tan máu ngoại mạch.
• IgG qua được nhau thai và vì kháng nguyên Rh phát triển sớm trong thai kỳ => bệnh thiếu máu tan máu ở trẻ sơ sinh.
• Có thể gặp một số tự kháng thể kháng Rh.
5. Một số lưu ý về mặt lâm sàng:
a) Phản ứng do truyền máu:
• Khi phát hiện trong cơ thể có anti-D thì trong tiền sử đã có sự tiếp xúc với hồng cầu D(+) do mang thai hay truyền máu. Kháng thể xuất hiện trong tuần hoàn cơ thể trong khoảng 120 ngày sau lần tiếp xúc đầu tiên và 2-7 ngày khi tiếp xúc lần hai.
• Vì sự phá huỷ hồng cầu gắn anti-Rh thường xảy ra ở ngoại mạch nên bệnh nhân thường có biểu hiện sốt, bilirubin máu tăng nhẹ, hemoglobin giảm, test Coomb trực tiếp dương tính.

b) Bệnh thiếu máu tan máu ở trẻ sơ sinh (HDN: hemolytic desease of newborn)
• Bệnh thiếu máu tan máu ở trẻ sơ sinh do kháng thể Rh thường nặng nề.
• Kháng nguyên D chiếm 50% các trường hợp HDN.
• Kiểu gen của người cha là rất quan trọng để có những tiên lượng đúng với lần mang thai kế tiếp nhằm có hướng điều trị và xử lý tốt đối với thai nhi.
• Để phòng ngừa HDN có thể sử dụng chế phẩm Rh immunoglobulin (là anti-D loại IgG).

Kết luận: quan tâm đến Rh khi nào: truyền máu lần thứ trở đi, hay lần đầu trên 4 đơn vị, hoặc phụ nữ mang thai con thứ 2.
(http://www.blood.co.uk/the-donor/win...s-negative.asp
http://en.wikipedia.org/wiki/Rh_blood_group_system
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK2269/
http://yhvn.vn/sites/default/files/u...ac_he_khac.pdf)