kết quả từ 1 tới 1 trên 1

Ðề tài: điều trị bph

  1. #1
    Junior Member

    Tham gia ngày
    May 2014
    Bài gởi
    24

    Default điều trị bph

    Chủ Đề: Default điều trị bph

    ►Lượt Xem: 4415 ►Trả Lời: 0
    ►Chia Sẽ:
    ►Ngày Gửi: 16-05-14 ►Đánh Giá: Sao

    Điều trị BPH:
    A. Theo dõi
    B. Điều trị nội khoa.
    C. Phương pháp xâm lấn tối thiểu
    D. Phẫu thuật
    E. Điều trị bằng phương pháp mới: làm tắc động mạch tiền liệt tuyến.

    A. THEO DÕI (WATCHFUL WAITING)

    Áp dụng đối với các trường hợp có IPSS < 7 bao gồm:
    1. Thay đổi lối sống:
    Điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt không phụ thuộc nhiều vào kích thước của tiền liệt tuyến mà chủ yếu phụ thuộc vào mức độ các rối loạn tiểu tiện của bệnh nhân. Nếu nhẹ và không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống thì có thể không cần phải điều trị, chỉ cần theo dõi và chờ xem. Tuy nhiên, khi có hoặc không có triệu chứng rối loạn tiểu tiện thì các thay đổi trong lối sống sẽ giúp cho bệnh nhân có thể sống chung với bệnh một cách thoải mái hơn, đó là: giảm hoặc bỏ rượu và cà phê; uống từng lượng nhỏ nước nhiều lần trong ngày chứ không phải là uống luôn một lúc một lượng lớn nước; tránh uống nhiều nước trước khi đi ngủ; tránh dùng các thuốc làm thông mũi và thuốc kháng histamine vì các thuốc này có thể gây kích thích cơ trơn ở cổ bàng quang gây rối loạn tiểu tiện nhiều hơn; đi tiểu ngay khi thấy mắc tiểu; thư giãn; tránh căng thẳng và tập thể dục thường xuyên

    Chuyên gia tiết niệu Jodi Antonelli và cộng sự đã quan sát các mẫu sinh thiết tuyến tiền liệt của 190 người đàn ông trong đó có 58% người ít vận động. Các nhà khoa học so sánh và phát hiện rằng sự vận động đều đặn ở mức độ vừa phải, hao phí sức lực bằng cách nào đó tương đương với đi bộ tốc độ trung bình, vài giờ mỗi tuần có thể giúp giảm nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt. Kết quả cũng cho thấy rằng những người tập thể dục khi đã mắc ung thư tuyến tiền liệt sẽ bị bệnh tấn công nhẹ hơn. Bác sĩ Antonelli khẳng định: “Tập thể dục nhiều, nguy cơ ung thư sẽ giảm”. Bác sĩ tiết niệu Stephen Freedland thuộc Bệnh viện Cựu chiến binh Duke và Durham nhận định rằng nghiên cứu này góp phần vào hàng chục nghiên cứu khác, thuyết phục rằng sự vận động có thể hạn chế nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt, thế nhưng các lý giải về tác dụng này vẫn chưa rõ ràng.

    2. Kiểm tra định kì bằng siêu âm và PSA:
    a. Siêu âm để theo dõi kích thước bướu,mức độ chèn ép của nó
    b. PSA:
    Trong 1 nghiên cứu được đăng trên tạp chí Joumal of Urology cho thấy nguy cơ tử vong được giảm gần 1/3 kể từ khi PSA được giới thiệu rộng rãi từ cuối những năm 80 đầu 90.Xét nghiệm PSA phát hiện 1 protein trong máu có thể báo hiệu sự hiện diện của ung thư tuyến tiền liệt
    Với rất nhiều người đàn ông có độ tuổi từ 50 trở lên, việc thử PSA để phát hiện ung thư tuyến tiền liệt kết hợp trong kiểm tra sức khỏe định kỳ hàng năm từ lâu đã trở nên hết sức quen thuộc, cũng giống như thử mỡ máu vậy. Các bác sĩ chỉ đơn giản đánh dấu vào mục thử máu của người đến khám và tự nhiên trong kết quả thử máu định kỳ sẽ có phần kết quả PSA. Nếu PSA có dấu hiệu cao hơn mức cho phép, bác sĩ sẽ yêu cầu bệnh nhân tiến hành thêm các xét nghiệm khác, mà trước nhất là thử sinh tiết để xác định có ung thư hay không. Việc xét nghiệm xem chừng hết sức đơn giản nhưng những gì kéo theo sau đó lại đang gây nhiều tranh cãi giữa các bác sĩ và nhà nghiên cứu.
    Năm 1993, Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ đã khuyến cáo đàn ông từ 50 trở lên nên đi thử PSA định kỳ hàng năm. Với những người có nguy cơ cao như người Mỹ gốc Phi hoặc có người thân cùng huyết thống bị ung thư tuyến tiền liệt, độ tuổi bắt đầu xét nghiệm PSA là 40. Tuy nhiên, đến năm 1997, cũng chính Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ lại nói rằng người bệnh nên nói chuyện với bác sĩ của mình trước khi quyết định có nên thử PSA hay không. Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ cho rằng việc thử PSA dẫn đến nhiều điều hại hơn lợi ở đại đa số người dân. Bác sĩ Otis Brawley, Giám đốc Y tế thuộc Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ cho biết: có những mặt hại liên quan đến xét nghiệm ung thư tuyến tiền liệt, trước hết là xét nghiệm này sai đến 80%. Có nhiều người sau xét nghiệm này làm sinh thiết thì bị nhiễm trùng, có một số nhỏ người thậm chí tử vong sau sinh tiết. Có những người bị phát hiện ung thư không nguy hiểm nhưng vẫn thực hiện các điều trị không cần thiết. Có khoảng 1 trong 100 đến 200 người qua phẫu thuật do ung thư tuyến tiền liệt đã tử vong sau đó. Khi chúng ta nói đến cái hại thì rất nhiều nhưng khi nói đến cái lợi của xét nghiệm này thì đó vẫn còn là một câu hỏi. Nó có thể cứu mạng người. Phần lớn các thử nghiệm lâm sàng cho biết xét nghiệm không hẳn đã cứu được mạng người nhưng có cũng có thể.

    B. ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA

    Hiện nay, theo xu hướng thế giới, trong các phương pháp trên thì điều trị nội khoa đang được áp dụng trên 70% các trường hợp nhờ hiệu quả cao và an toàn cho bệnh nhân vì tránh được nhiều biến chứng phẫu thuật như chảy máu, nhiễm trùng và đặc biệt là ảnh hưởng trên đời sống tình dục của người bệnh (rối loạn cương, xuất tinh ngược dòng, giảm ham muốn sinh hoạt tình dục)

    1. Thuốc ức chế thụ thể alpha-adrenergic:
    - Các thuốc ức chế alpha-adrenergic không làm tiêu bướu,mà chỉ giúp tiểu dễ ,do cổ bàng quang và niệu đạo mở rông khi đi tiểu
    - Chưa có thuốc nào chứng minh được làm bướu nhỏ đi
    - Thuốc có hiệu quả với bướu to 1 hay 2 thùy bên, chứ ít tác dụng lên bướu thùy giữa
    - Các thuốc chẹn alpha tuy có hiệu quả tương tương nhau nhưng các thuốc không chọn lọc trên hệ niệu như doxazosin,terazosin có tác dụng trên tim mạch hơn.Các thuốc chọn lọc hệ niệu như tamsulosin,alfuzosin có tác dụng phụ trên chức năng tình dục nhiều hơn

    * Alfuzosin:
    - Nhóm: thuốc hỗ trợ điều trị bệnh đường niệu
    - Biệt dược: Xatral SR, Xatral XL 10mg
    - Dạng bào chế: viên nén bao phim,viên nang mềm,viên nén
    - Thành phần: Alfuzosin hidrochlorid
    - Dược lực học: Alfuzosin là 1 dẫn xuất của quinazoline, đối kháng với thụ thể alfa-1-adrenergic hậu sinap
    - Dược động học:
    + Hấp thu: nồng độ tối đa trong huyết tương đạt được sau uống thuốc 3h. Thời gian bán hủy là 8h. Ở người già,nồng độ tối đa trong huyế tương và thời gian bán hủy cao hơn
    + Phân bố: 90% gắn với protein huyết tương, chất này chuyển hóa mạnh
    + Chuyển hóa: không có
    + Thải trừ: qua mật và phân
    - Tác dụng: có hoạt tính khi dung đường uống,có tính thụ thể chuyên biệt tại tam giác bàng quang,niệu đạo và tiền liệt tuyến. Làm giảm áp lực của niệu đạo do đó làm giảm lực cản dòng nước tiểu,tác dụng vào thần kinh giao cảm làm giảm trương lực sợi cơ trơn đường tiểu dưới,trên tim mạch có tác dụng chống tăng huyết áp
    - Chỉ định: điều trị một vài biểu hiện chức năng của BPH cần trong các đợt trì hoãn phẫu thuật và trong các đợt tiến triển
    - Chống chỉ định:
    + Quá mẫn với thuốc ức chế a1
    + Tiền sử bị hạ huyết áp thế đứng
    + Phối hợp với các thuốc ức chế a1
    - Liều: bắt đầu 2 viên, không quá 4 viên/ ngày

    * Terazosin:
    - Nhóm: thuốc tim mạch
    - Biệt dược:Hytrin,Setegis,teranex
    - Dạng bào chế: viên nang
    - Thành phần: terazosin
    - Dược lực: là chất chẹn alpha toàn thân
    - Dược động học:
    + Hấp thu: sinh khả dụng đường uống thấp do chuyển hóa lần đầu qua gan
    + Chuyển hóa: qua gan lần đầu
    + Thải trừ: nước tiểu,thời gian bán thải khoảng 2h
    - Tác dụng: chẹn thụ thể a1, tác dụng có lợi trên chuyển hóa lipit,là, giảm LHL,triglyceride,HDL
    - Chỉ định:
    + Dùng đơn thuần hoặc kết hợp trong tăng huyết áp
    + Giảm triệu chứng do BPH
    - Chống chỉ định: Quá mẫn với thành phần của thuốc, trẻ em
    - Liều: uống theo liều khá phức tạp

    * Doxazosin:
    - Nhóm: thuốc tim mạch
    - Biệt dược: Binexcaldin, Carduran,Dosinhexal 1mg và 2mg
    - Dạng bào chế: viên nén
    - Thành phần: Doxazosin mesylate
    - Dược lực: dãn mạch thông qua ức chế chọn lọc và cạnh tranh ở thụ thể a1-adrenergic của màng hậu sinap
    - Dược động học:
    + Hấp thu: nồng độ đỉnh đạt vào khoảng 2h sau đó
    + Chuyển hóa: chuyển hóa hoàn toàn qua gan, cẩn thận với bệnh nhân mắc bệnh gan
    + Thải trừ: làm 2 giai đoạn, thời gian bán thải là 22h nên chỉ sử dụng 1 lần 1 ngày
    - Tác dụng:
    + Giảm huyết áp do giảm kháng lực mạch máu
    + Cải thiện đáng kể động lực đường niệu và các triệu chứng khác của bệnh nhân BPH. Tác dụng trên BPH được cho là ức chế thụ thể a1-adrenergic trên mô stroma cơ tiền liệt tuyến,cơ và cổ bàng quang
    + Doxazosin có tác dụng ức chế phân nhóm A1 của thụ thể a1-adrenergic, chiếm hơn 70% các phân nhóm trong tiền liệt tuyến
    + Doxazosin có hiệu quả và an toàn trong điều trị lâu dài BPH (48 tháng)
    + Doxazosin cho thấy không có tác dụng phụ chuyển hóa và thích hợp sử dụng trên bệnh nhân đái tháo đường, hen phế quản, rối loạn chức năng thất trái,gout và bệnh nhân cao tuổi
    - Chỉ định:
    + Tăng huyết áp
    + BPH: Doxazosin được chỉ định điều trị tắc nghẽn đường tiểu và các triệu chứng kèm theo của BPH. Có thể dùng ở bệnh nhân có hoặc không có tăng huyết áp. Điều trị có hiệu quả tốt đối với bệnh nhân có kèm tăng huyết áp và không làm thay đổi đáng kể về mặt lâm sàng huyết áp của bệnh nhân BPH có huyết áp bình thường
    - Chống chỉ định:với bệnh nhân quá mẫn với quinazoline
    - Liều: thường 2-4mg/ngày

    * Prazosin:
    - Nhóm: điều trị tăng huyết áp
    - Biệt dược: minipress, vasoflex
    - Dạng bào chế: viên nang
    - Tác dụng:
    + Prazosin, dẫn chất quinazolin là thuốc hạ huyết áp chẹn alpha 1. Tác dụng hạ huyết áp là do giãn tiểu động mạch, nhờ tác dụng chẹn thụ thể alpha sau synap làm giảm sức cản của mạch ngoại vi.
    + Prazosin làm giãn cơ trơn trong tuyến tiền liệt do đó làm tăng lưu lượng nước tiểu ở người bệnh phì đại tuyến tiền liệt lành tính. Prazosin không tác động đến dòng máu qua thận và chức năng thận
    - Chỉ định:
    Tăng huyết áp: Prazosin là thuốc bổ trợ khi các thuốc chẹn bêta và lợi tiểu không đạt hiệu quả. Trong điều trị suy tim cũng có thể dùng thêm prazosin khi hiệu quả không đạt được tối ưu với digitalin và lợi tiểu.
    Phì đại tuyến tiền liệt lành tính: Dùng trong thời kỳ chờ phẫu thuật
    - Chống chỉ định:
    + Không dùng cho suy tim do tắc nghẽn như hẹp động mạch chủ, hẹp van 2 lá.
    + Ở người bệnh mẫn cảm với thuốc thuộc nhóm quinazolin.
    - Sử dụng trong BPH:
    + 500 microgam, 2 lần/ngày, 3 - 7 ngày. Liều đầu tiên dùng vào buổi tối. Sau đó điều chỉnh liều theo đáp ứng lâm sàng. Liều duy trì 2 mg, 2 lần/ngày. Liều này không nên vượt quá, trừ trường hợp dùng prazosin với mục đích hạ huyết áp.
    + Người bệnh đang dùng thuốc hạ huyết áp mà bị phì đại tuyến tiền liệt lành tính, cần dùng prazosin để điều trị thì cần có sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ.
    + Người bệnh suy thận vừa và nặng: Cho tới nay đã có bằng chứng cho thấy, prazosin không làm tổn hại thêm chức năng thận. Một số người bệnh có đáp ứng với liều nhỏ, do đó nên dùng liều ban đầu là 500 microgam/ngày, và tăng dần một cách thận trọng.
    + Người bệnh suy gan: Chưa có thông tin về dùng prazosin cho nhóm người này, tuy nhiên prazosin thường phải qua chuyển hóa và đào thải ở gan, do đó liều dùng lúc đầu nên là 500 microgam/ngày rồi tăng dần dần một cách thận trọng.
    + Dùng cho người cao tuổi: Do người cao tuổi dễ bị tụt huyết áp, nên liều dùng đầu tiên phải ở mức thấp nhất.
    + Dùng cho trẻ em: Không dùng cho trẻ em dưới 12 tuổi vì không đảm bảo an toàn.

    * Tamsulosin: có tác dụng điều trị BPH ở bệnh nhân không bị cao huyết áp đi kèm,có nhiều tác dụng phụ trên chức năng tình dục như rối loạn xuất tinh

    2. Thuốc ức chế men 5-alpha-reductase:
    -Tuy có ưu điểm là làm giảm kích thước bướu nhưng đòi hỏi phải điều trị lâu dài ( 6-12 tháng) mới cải thiện triệu chứng.Do đó thường được phối hợp với thuốc chẹn alpha.Ngoài ra nó còn có bất lợi trên chức năng tình dục như cơ chế lien quan tới chuyển hóa testosterone gây rối loạn cương dương ,cuất tinh ngược dòng,giảm ham muốn tình dục
    * Finasteride:
    - Nhóm: thuốc hỗ trợ trong điều trị đường niệu
    - Biệt dược: Unibald tablet
    - Dạng bào chế: viên nén bao phim
    - Thành phần: Finasteride
    - Dược lực: ức chế enzyme cần cho việc chuyển testosterone thành DHT trong tuyến tiền liệt, vì vậy làm giảm DHT , làm giảm kích thước tuyến tiền liệt
    - Tác dụng: là thuốc ức chế hoạt động của testorterone ở nam giới, quá trình phì đại của tiền liệt tuyến trong BPH phụ thuộc trực tiếp vào DHT là hoocmon androgen chính của nó. Finasteride ức chế enzyme cần cho quá trình tạo DTH do đó giảm nồng độ DHT trong máu và mô giúp cho tiền liệt tuyến nhỏ lại
    - Chỉ định: rối loạn đường tiết niệu do BPH
    - Chống chỉ định: mẫn cảm với thuốc, trẻ em (cho chỉ định)
    - Tác dụng phụ: bất lực,giảm khả năng tình dục
    -Liều: ngày 1 viên, đợt dùng ít nhất 6 tháng để có kết quả tốt

    Các nghiên cứu khác:
    - Một nhóm thuốc mới là chất đối kháng thụ thể muscarinic có thẩ là 1 lựa chọn trong những trường hợp bướu có kích thước nhỏ và có triệu chứng kích thích nhiều
    - Vị thuốc dược thảo cọ lá Nam Mỹ có tác dụng giảm các triệu chứng bệnh này,nghiên cứu của Wilt và cộng sự,2002,cho thấy tác dụng của thuốc này tương đương Finasteride
    - Giáo sư Đỗ Tất Lợi cũng gợi ý 1 vị thuốc nam từ cây trinh nữ hoàng cung có tác dụng chữa bệnh

    C. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ XÂM LẤN TỐI THIỂU

    Tạp chí Tiết niệu châu Âu (The European Urology Review) xuất bản năm 2009 nói về 2 bác sĩ Israel, Yigal Gat và Menahem Goren đã phát triển phương pháp không-phẫu-thuật Gat-Goren cho BPH. Bằng cách sử dụng 1 kỹ thuật phóng xạ can thiệp làm giảm khối lượng tuyến tiền liệt và đảo ngược triệu chứng BPH, cách điều trị đó được gọi là Liệu pháp Làm mất androgen siêu chọn lọc bên trong TLT (super-Selective intra-Prostatic Androgen Deprivation = SPAD) , liên quan đến chụp hình tĩnh mạch xuyên da (percutaneus venography) và liệu pháp xơ hoá (sclerotherapy) của các mạng lưới tĩnh mạch nội bộ tinh hoàn, bao gồm cả nối tắt tĩnh mạch liên quan và phần bên sau phúc mạc. Tạp chí Tiết niệu châu Âu cũng tuyên bố rằng bằng cách sử dụng kết quả Gat-Goren không phẫu thuật giảm khối lượng TLT, đã giảm đáng kể tiểu đêm, cải thiện dòng nước tiểu, cải thiện lượng nước tiểu đổ vào bàng quang, không có tác dụng phụ lớn và không biến chứng như phẫu thuật cổ điển.
    Thuốc thường được kê ra như lựa chọn điều trị đầu tiên, khi có nhiều bệnh nhân không thành công với điều trị này. Bác sĩ tiết niệu có những lựa chọn điều trị trước khi tiến hành phẫu thuật. Hai phương pháp trị liệu phổ biến nhất dựa trên sự hỗ trợ máy móc là Liệu pháp nhiệt dùng sóng cực ngắn xuyên niệu đạo (TransUrethral Microwave Thermotherapy = TUMT) và cắt bỏ bằng kim xuyên niệu đạo (TransUrethral Needle Ablation = TUNA). 2 liệu pháp này dựa vào việc cung cấp năng lượng để tạo ra nhiệt đủ để gây chết tế bào trong TLT (hoại tử). Mục tiêu của phương pháp điều trị là gây hoại tử đủ để khi các tế bào chết được tái hấp thu bởi cơ thể, TLT sẽ co lại, làm giảm tắc nghẽn niệu đạo. Các liệu pháp này thường được thực hiện với gây tê tại chỗ, BN trở về nhà cùng ngày. Một số nhà tiết niệu học đã nghiên cứu và xuất bản dữ liệu dài hạn về thủ thuật này, có nghiên cứu kéo dài đến 5 năm. Gần đây nhất Hiệp hội Tiết niệu Mỹ (AUA),trong sách “Hướng dẫn điều trị BPH”, năm 2003 đã liệt kê các phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu bao gồm cả TUMT và TUNA là lựa chọn thay thế chấp nhận được đối với BN bị BPH.
    * Liệu pháp TUMTđược chấp thuận bởi FDA (Cục Quản lý dược và Thực phẩm Hoa Kỳ) vào năm 1996, với hệ thống thế hệ đầu tiên của EDAP Technomed. Từ năm 1996, các công ty khác đã được FDA phê chuẩn cho thiết bị TUMT, bao gồm cả Urologix, Dornier, Thermatrix, Celsion Prostalund. Nhiều nghiên cứu lâm sàng đã được công bố trên TUMT. Các nguyên tắc chung cơ bản của tất cả các thiết bị là 1 ăng-ten vi sóng nằm trong 1 ống thông niệu đạo được đặt trong vùng nội TLT của niệu đạo. Ống thông được kết nối với một hộp điều khiển bên ngoài cơ thể của BN và năng lượng phát ra bức xạ vi sóng vào TLT để làm nóng các mô và gây ra hoại tử. Thời gian điều trị mất khoảng 30′ – 1 h, tùy thuộc vào hệ thống được sử dụng. Nó mất khoảng 4-6 tuần cho các mô bị hư hỏng được tái hấp thu vào cơ thể của BN. Một số các thiết bị kết hợp như nước làm mát lưu thông qua khu vực điều trị với mục đích bảo tồn niệu đạo trong khi năng lượng vi sóng làm nóng các mô TLT bao quanh niệu đạo.
    Liệu pháp nhiệt dùng bước sóng ngắn. Áp dụng cho BN mà đường tiểu chưa bị cản trở 1 cách đáng kể.
    Hình: đỏ:đốt nóng bằng sóng ngắn.. xanh: dẫn nhiệt lạnh
    * Liệu pháp TUNA hoạt động với 1 loại năng lượng năng lượng vô tuyến (RF) tần số khác nhau, nhưng được thiết kế giống như các thiết bị TUMT, nhiệt tạo ra sẽ gây ra hoại tử các tế bào TLT và thu nhỏ TLT. Thiết bị TUNA được đưa vào niệu đạo bằng cách sử dụng 1 ống cứng giống như ống soi bàng quang. Năng lượng được đưa vào TLT bằng cách sử dụng 2 cây kim xuất hiện từ hai bên của thiết bị, thông qua bề mặt niệu đạo và vào TLT. Cắt bỏ bằng kim rất hiệu quả làm nóng một vùng khu trú đến 1 nhiệt độ đủ cao để gây ra hoại tử. Việc điều trị thường được thực hiện trong một phiên, nhưng có thể yêu cầu châm nhiều lần tùy thuộc vào kích thước của TLT.
    * Điện bốc bay tuyến tiền liệt qua niệu đạo (Transurethral electrovaporization of the prostate –TVP) gồm một dụng cụ kim loại đặc biệt phát ra dòng điện cao tần để cắt và làm bốc hơi mô thừa đồng thời gắn kín mô còn lại để ngăn ngừa chảy máu. Thủ thuật này đặc biệt hữu ích cho bệnh nhân có nguy cơ cao bị biến chứng, bao gồm những người sử dụng thuốc chống đông máu. Như với các điều trị khác mới hơn, chưa rõ lợi ích lâu dài.
    * Liệu pháp laser: Thủ thuật này được thực hiện tương tự như các liệu pháp nhiệt khác, trừ việc nó sử dụng laser thay cho năng lượng vi sóng, sóng vô tuyến hoặc dòng điện để sinh nhiệt. Nói chung thủ thuật này không gây liệt dương hoặc tiểu tiện không tự chủ kéo dài. Tuy nhiên, một số thủ thuật laser phải sử dụng ống thông tiểu trong thời gian dài. Liệu pháp laser bao gồm bốc bay tuyến tiền liệt qua niệu đạo (transurethral evaporation of the prostate -TUEP), cắt bằng laser nhìn thấy không tiếp xúc (noncontact visual laser ablation -VLAP) và liệu pháp laser kẽ

    D. PHẪU THUẬT

    *TURP
    1. Cắt đốt tuyến tiền liệt qua ngã niệu đạo (Transurethral resection of the prostate = TURP) là một thủ thuật được dùng để điều trị phì đại tiền liệt tuyến lành tính (BPH) mức độ từ vừa đến nặng. Đây là một trong những phẫu thuật quan trọng thường được thực hiện ở đàn ông từ 65 tuổi trở lên.
    2.jpg Phẫu thuật TURP
    2. Qui trình thực hiện Thủ Thuật
    Sau khi gây tê tuỷ sống hoặc gây mê toàn thân, dụng cụ cắt đốt nội soi sẽ được đưa vào niệu đạo qua dương vật. Dụng cụ cắt đốt nội soi dài khoảng 30 cm, đường kính khoảng 1,25 cm bao gồm ống dẫn sáng, các van để kiểm soát dịch phun tưới và vòng dây điện để cắt hoặc làm bốc hơi các mô, đồng thời cầm máu tại chỗ.
    Trong thời gian phẫu thuật từ 60 đến 90 phút, bác sĩ sẽ dùng vòng dây của ống soi để loại bỏ từng mẩu nhỏ của phần mô gây tắc nghẽn từ phía trong của tuyến tiền liệt, tạo thành một khoang.
    Chỉ có phần trong của tuyến bị cắt bỏ. Các mẫu mô này sẽ được phun xịt nước cho trôi xuống bàng quang, sau đó được rửa trôi ra ngoài ở giai cuối của thủ thuật.
    Bệnh nhân cần nằm viện từ 1 đến 2 ngày. Sau phẫu thuật, có thể có máu hoặc các cục máu đông nhỏ trong nước tiểu. Có thể cần đặt ống thông tiểu trong một vài ngày. Lúc đầu, bệnh nhân thường cảm thấy tiểu buốt hoặc mót tiểu khi nước tiểu chảy qua vùng mới cắt đốt. Tình trạng sẽ cải thiện dần sau từ 1 đến 4 tuần.
    3. Chỉ Định Điều Trị
    TURP giảm đáng kể những triệu chứng của đường tiểu dưới ở hầu hết các bệnh nhân được điều trị. Phẫu thuật làm giảm triệu chứng nhiều nhất ở những bệnh nhân có tuyến tiền liệt to và đã gây nhiều phiền toái. Ngay cả những trường hợp bệnh nhân bị tổn thương nặng ở bàng quang do phì đại tuyến tiền liệt cũng thường có cải thiện tốt sau khi thực hiện TURP.
    4. Kết Quả
    TURP giảm nhẹ triệu chứng nhanh chóng. Đa số bệnh nhân sẽ có dòng nước tiểu mạnh hơn trong vài ngày. Tính trung bình, bệnh nhân quan sát thấy có giảm 14 đến 20 điểm trong bảng tính điểm triệu chứng tiết niệu (urinary symptom index score), kết quả này được xem là khả quan nhất khi so sánh với tất cả các phương pháp điều trị khác.
    4. Các Tác Dụng Phụ
    - TURP có thể gây chảy máu nhiều, dẫu hiếm gặp với các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại.
    - Mót tiểu rất thường gặp ở giai đoạn hồi phục sớm, và sau đó giảm dần.
    - Hội chứng TURP xảy ra khi cơ thể hấp thu qua nhiều dịch phun rửa gây giảm nồng độ sodium trong máu. Hội chứng này hiện ít gặp do các kỹ thuật phẫu thuật đã được cải tiến. Việc điều trị cũng dễ dàng.
    - Các tác dụng phụ lâu dài của TURP có thể gồm: Tinh dịch chảy ngược vào bàng quang (xuất tinh ngược chiều=retrograde ejaculation); Nhiễm trùng đường tiết niệu tái diễn; Hẹp cổ bàng quang; Nước tiểu có máu…
    5. Sự cần thiết phải điều trị lại: Thường ít phải điều trị lại sau khi đã thực hiện TURP. Một số bệnh nhân cần phẫu thuật lần 2 sau một số năm. Một số ít bệnh nhân cần tái điều trị do tuyến tiền liệt phát triển trở lại hoặc do lần phẫu thuật đầu tiên đã chưa cắt bỏ đủ số lượng mô của tiền liệt tuyến.
    * Mổ cắt tuyến tiền liệt mở. Kiểu phẫu thuật này nói chung chỉ được thực hiện nếu tuyến tiền liệt quá to, tổn thương bàng quang hoặc các yếu tố biến chứng khác như sỏi bàng quang hoặc nghẽn niệu đạo. Nó được gọi là mở vì bác sĩ thường rạch ở vùng bụng dưới để vào tuyến tiền liệt thay vì đi qua niệu đạo.
    Mổ cắt tuyến tiền liệt mở là biện pháp an toàn và hiệu quả nhất ở có tuyến tiền liệt rất to. Nhưng nó nhiều nguy cơ tác dụng phụ nhất. Các biến chứng của thủ thuật tương tự như TURP, còn hiệu quả rõ rệt hơn nhiều. Thủ thuật thường khiến bệnh nhân phải nằm viện từ 3 đến 5 ngày.
    Dạng mổ cắt tuyến tiền liệt mở hay gặp nhất là cắt bỏ toàn bộ tuyến tiền liệt để loại bỏ mô ung thư. Nó bao gồm bóc toàn bộ tuyến tiền liệt. Trong mổ cắt tuyến tiền liệt mở để điều trị u xơ tuyến tiền liệt, chỉ có phần trong của tuyến bị cắt bỏ, để lại nguyên phần vỏ ngoài
    * Phương Pháp TUVP
    Làm bốc hơi tuyến tiền liệt qua ngã niệu đạo (Transurethral electrovaporization of the prostate =TUVP), một thủ thuật tương tự TURP, sử dụng một dụng cụ kim loại đặc biệt phát ra dòng điện cao tần để cắt và làm bốc hơi phần mô thừa đồng thời với việc kết dính phần mô còn lại để ngăn ngừa xuất huyết. TUVP đặc biệt hữu ích cho các bệnh nhân có nguy cơ biến chứng cao, như đang dùng thuốc kháng đông (anticoagulant) chẳng hạn.
    Kỹ thuật TUVP: Thời gian thực hiện TUVP lâu hơn TURP và không thể áp dụng cho các tuyến tiền liệt có kích thước quá lớn. Lợi ích lâu dài của TUVP hiện nay chưa được đánh giá đầy đủ.

    *Đối với bệnh nhân không muốn hoặc không thể dùng thuốc hay phẫu thuật, có các phương pháp không phẫu thuật khác, bao gồm:
    - Nong bằng bóng. Sử dụng ống thông, bác sĩ đặt một quả bóng xẹp nhỏ vào phần niệu đạo nằm trong tuyến tiền liệt. Sau đó quả bóng được bơm phồng để nong niệu đạo và ép mô tuyến tiền liệt. Do sự cải thiện chỉ kéo dài trong khoảng thời gian ngắn, thủ thuật này ít được sử dụng và thường không mang lại hiệu quả.
    - Đặt stent tuyến tiền liệt. Một ống kim loại xoắn nhỏ được đưa vào trong niệu đạo để nong rộng niệu đạo và giữ cho luôn thông. mô sẽ phát triển trên stent để giữ ống ở nguyên vị trí.
    Một ưu điểm của thủ thuật là chỉ mất 10 đến 15 phút. Nó ít hoặc không gây chảy máu và không cần đặt ống thông. Tuy nhiên trong các thử nghiệm trước đây, gần 1/3 số bệnh nhân đặt stent phải tháo ống do di lệnh hoặc biến chứng. Stent thường không phải là biện pháp lý tưởng đối với những bệnh nhân cao tuổi khó mang hoặc giữ chúng, hoặc những người người không thể chịu đựng được thủ thuật.
    Một số bệnh nhân thấy stent không cải thiện được các triệu chứng. Một số khác bị kích ứng khi đi tiểu hoặc thường xuyên bị nhiễm khuẩn tiết niệu. Các biến chứng này, cùng với chi phí cao và khó khăn khi tháo stent đã làm giảm mức độ phổ biến của chúng.

    E. PROSTATE ARTERY EMBOLISATION (PHƯƠNG PHÁP LÀM TẮC ĐỘNG MẠCH TIỀN LIỆT TUYẾN)

    1. PAE là gì?
    PAE là một phương pháp điều trị BPH mà không cần phẫu thuật bằng cách làm tắc động mạch nuôi dưỡng tiền liệt tuyến nhờ sự trợ giúp của Xquang thông qua động mạch đùi (thường là bên phải) bằng polyvinyl alcohol (PVA) làm cho tiền liệt tuyến teo nhỏ lại và là một thay thế tốt cho TURP. Kết quả là tiền liệt tuyến co nhỏ lại, ít gây tắc nghẽn, và cải thiện các triệu chứng của LUTs
    PAE được nghiên cứu bởi tiến sĩ J.Martins Pisco của bệnh viện Saint Louis ở Lisbon, Bồ Đào Nha. PAE được thực hiện lần đầu tiên vào năm 2009, và kể từ đó có hơn 200 đàn ông được thực hiện PAE, chủ yếu ở Bồ Đào Nha và Brazil.
    2. Nghiên cứu của Pisco
    Được thực hiện trên bệnh nhân độ tuổi từ 45-89 (tuổi trung bình là 69.5) và thể tích tiền liệt tuyến là 35-269cc ( trung bình 92cc). Bệnh nhân được đánh giá trước và sau thủ thuật 1,3,6 tháng và sau đó mỗi 6 tháng được đánh giá lại. Việc theo dõi kiểm soát từ 3-52 tháng (trung bình 20,1 tháng)
    Kết quả:
    87,2% bệnh nhân không than phiền về các triệu chứng khi đánh giá vào 3 tháng sau thủ thuật, 80,2% ở 18 tháng, và 72,3% ở 36 tháng. Có 2 bệnh nhân bị biến chứng nặng, 1 là thiếu máu cục bộ bàng quang, sau đó được điều trị bằng phẫu thuật đơn giản và 1 đau ở vùng đáy chậu kéo dài 3 tháng. Cả 2 bệnh nhân sau khi điều trị phục hồi biến chứng lần 2 không xảy ra biến chứng nào khác sau đó. Không có trường hợp nào bệnh nhân than phiền về rối loạn chức năng tình dục hoặc tiểu không tự chủ.
    Thành công lâm sàng (loại bỏ ống Foley và cải thiện triệu chứng) là 91%. Cải thiện lâm sàng được đánh giá bằng IPSS (International Prostate Syndrom Score) và QoL (Quality of Life). IPSS giảm giảm 25% hoặc hơn, thường IPSS < 15, và QoL giảm 1 điểm và thường QoL ≤ 3, tăng Qmax ≥ 2.5ml/s.
    3. Ưu điểm
    Phương pháp nhanh chóng (1-3 giờ), hiệu quả và an toàn.
    Thời gian nằm viện ít, chỉ 1 ngày
    Hồi phục sức khỏe sớm 7-10 ngày
    Không gặp biến chứng rối loạn chức năng tình dục, bất lực, rối loạn xuất tinh, xuất tinh ngược dòng, tiểu không tự chủ như ở TURP, và cũng không phải tái điều trị do tuyến tiền liệt phát triển trở lại hoặc do lần phẫu thuật đầu tiên đã chưa cắt bỏ đủ số lượng mô của tiền liệt tuyến như TURP.
    Có thể điều trị được ngay cả khi tuyến tiền liệt rất lớn ( giới hạn của TURP tiền liệt tuyến phải nhỏ hơn 60gr)
    1.jpgHình ảnh trước khi làm PAE. Có hiện diện ống thông Foley do bí tiểu cấp tính.
    2.jpg1 tháng sau khi làm PAE, vùng đen nghĩa là không cung cấp máu đến tiền liệt tuyến sau PAE. Ống thông đã được gỡ bỏ sau khi kích thước tiền liệt tuyến giảm và bệnh nhân tiểu bình thường.
    4. Chuẩn bị bệnh nhân
    Bệnh nhân phải được ngừng sử dụng các loại thuốc điều trị BPH 1 tuần trước khi làm PAE.
    Bệnh nhân được uống thuốc trong 2 ngày trước khi làm thủ thuật
    Ức chế bài tiết acid: omeprazole 20mg 1l/ngày x 2.
    Kháng viêm: naproxen 1g 2l/ngày x 2.
    Kháng sinh: ciprofloxacin 750mg 2l/ngày x 2.
    5. Kĩ thuật
    Gây tê ngoài màng cứng.
    Đường tiếp cận là động mạch đùi.
    Khảo sát hệ thống mạch máu cung cấp máu cho tiền liệt tuyến bằng Arteriogram (chụp Xquang động mạch với thuốc cản quang).
    Đưa catheter vào động mạch cấp máu cho tiền liệt tuyến
    Bơm polyvinyl alcohol (PVA) chậm vào dưới sự hướng dẫn của X.quang
    Sau khi tiến hành thuyên tắc cần chụp lại Arteriogram để khảo sát kết quả của quá trình.
    Toàn bộ quá trình được thực hiện trong 1-2 giờ
    3.jpg
    Microcatheter trong các động mạch tuyến tiền liệt. Arteriogram động mạch tuyến tiền liệt.
    Hình Kèm Theo Hình Kèm Theo

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Trang Chủ YCanTho Copyright © 2012-2013 Diễn đàn YCantho
S2 ĐỂ BLOUSE MÃI TRẮNG
Vui lòng trích dẫn "www.ycantho.com" khi bạn phát hành thông tin từ Ycantho.
Múi giờ GMT. Hiện tại là 08:36 PM.