XOẮN THỪNG TINH


I. Định nghĩa
- Xoắn thừng tinh hay còn gọi là xoắn cuống tinh hoàn (thường gọi là xoắn tinh hoàn) là một cấp cứu ngoại khoa thường ít được quan tâm và bỏ soát.
- Xoắn thừng tinh thường gặp nhất là ở độ tuổi dậy thì, sau 25 tuổi thì ít gặp và lớn tuổi hơn nữa tuy có thể bị nhưng hiếm hoi hơn. Xoắn thừng tinh cũng thường gặp ở trẻ em sinh đôi, trẻ thứ hai (25-50%).
II. Giải phẫu
Trong thời kỳ bào thai, tinh hoàn nằm trong ổ bụng. Trong quá trình phát triển của bào thai, tinh hoàn di chuyển xuống bìu. Kết thúc quá trình di chuyển này, tinh hoàn sẽ được treo lủng lẳng trong bìu như quả lắc đồng hồ. Càng về sau tinh hoàn càng được cố định vững chắc hơn và nằm hẳn trong bìu. Tại đây, tinh hoàn được bao bọc bởi màng bao tinh hoàn. Thừng tinh gồm những tĩnh mạch ngoằn nghèo dẫn máu ra khỏi các tinh hoàn
III. Nguyên bệnh sinh
Xoắn thừng tinh xảy ra khi một tinh hoàn xoay, xoắn thừng tinh mang máu đến dương vật. Sự giảm lưu lượng máu gây đau và sưng đột ngột và thường nặng.

Nguyên nhân:
- Bất thường bẩm sinh
- Tinh hoàn không xuống bìu đầy đủ
- Hoạt động thường ngày bất cẩn, sinh hoạt tình dục
- Chấn thương
- Tập luyện thể lực không đúng cách
- Phản xạ thừng tinh
- Khí hậu lạnh.
Cơ chế:
- Do co cơ bìu đột ngột và dữ dội nhưng thực tế chỉ xảy ra trên bệnh nhân có dị dạng giải phẫu:
• Màng tinh hoàn rộng, tinh hoàn di động dễ dàng như quả lắc.
• Mạc treo tinh hoàn rộng, tinh hoàn dễ di động.
• Thừng tinh dai, dây kéo tinh hoàn dài, hoặc thừng tinh ngắn, mạc treo tinh hoàn hẹp kéo ngược tinh hoàn lên.
• Mào tinh hoàn tách rời không dính với tinh hoàn.
- Do rối loạn thần kinh thực vật gây nên hiện tượng co thắt mạch trước tiên, còn xoắn tinh hoàn chỉ là biến chứng. Thực tế cơ chế xoắn tinh hoàn vẫn chưa được giải thích đầy đủ.
Phân loại: Xoắn thừng tinh có 2 loại:
- Xoắn thừng tinh trong tinh mạc thường gặp ở người lớn có màng bao tinh hoàn dính cao bất thường, tinh hoàn có thể xoay tự do trên thừng tinh trong màng bao tinh.
- Xoắn thừng tinh ngoài tinh mạc, thường gặp ở trẻ em do tính di động cao của tinh hoàn khiến tinh hoàn dễ bị xoắn
IV. Giải phẫu bệnh
Theo thời gian và mức độ xoắn 1 vòng hay 2-3 vòng.
-Các thương tổn sớm có khả năng hồi phục tinh hoàn chỉ có cương tụ dữ dội các mao mạch, mạch máu nhỏ căng đỏ thắm, màng tinh hoàn bị phù xuất huyết, hồng cầu thoát mạch tràn dịch màng tinh hoàn màu hồng.
-Thương tổn muộn sau 6 giờ, tinh hoàn tử chảy máu từng đám hay nhồi máu hoại tử lan rộng: tinh hoàn màu đen. Vì thế, các dòng tế bào sinh tinh, tế bào Leydig đã bị phá huỷ các mô kẽ.
V. Triệu chứng lâm sàng
Thể điển hình thường gặp ở trẻ lớn.
- Đau dữ dội một bên tinh hoàn có thể lan dọc theo thừng tinh, ống bẹn đến hố chậu. Đau liên tục không thành cơn càng về sau càng tăng. Cơn đau dịu đi sau 6 giờ.
- Nôn, buồn nôn.
- Có thề có sốt
- Bìu to dần, da bìu còn đỏ thắm hay bầm tím, mất nếp nhăn, sờ nắn vào rất đau. Phù có thể lan rộng sang cả bìu bên đối diện.
- Dưới da bìu nổi lên một khối (tinh hoàn và mào tinh hoàn) co rút về phía bẹn (dấu hiệu Gouverneur).
- Có thể thấy một bên tinh hoàn treo cao hơn bình thường hoặc nằm ngang.
VI. Triệu chứng cận lâm sàng
Siêu âm Doppler bìu: phát hiện dòng máu động mạch nuôi tinh hoàn ngừng trệ hoàn toàn hay giảm.
VII. Chẩn đoán
1. Chẩn đoán xác định: đau đột ngột, dữ dội bìu, tinh hoàn, ống bẹn. Bìu sừng to nhanh, nổi khối u. Khám siêu âm, và siêu âm mạch máu (echo-Doppler) để xác định chẩn đoán.
2. Chẩn đoán phân biệt:
- Viêm tinh hoàn
- Viêm mào tinh hoàn.
- Chấn thương tinh hoàn
- Thoát vị bẹn nghẹt.
- Viêm ruột thừa cấp thể tiểu khung
VIII. Thể lâm sàng
1. Theo tiến triển
- Bán cấp
- Tái diễn
2. Theo tuổi
- Xoắn tinh hoàn ở trẻ sơ sinh có thể ngay sau khi đẻ
- Trẻ còn bú
3. Theo giải phẫu bệnh
- Xoắn tinh hoàn cả màng tinh hoàn
- Xoắn tinh hoàn lạc chỗ
- Xoắn các phần phụ: xoắn nagn Morgagni, tắc mạch máu bất thường Haller…
IX. Điều trị
Phương pháp duy nhất là phẫu thuật, càng sớm càng tốt. Nếu được điều trị trong vòng vài giờ, tinh hoàn thường có thể được cứu. Nhưng chờ đợi lâu hơn tinh hoàn có thể trở nên bị hoại tử và phải cắt bỏ.

X. Tiên lượng và biến chứng:
 Tiên lượng: chức năng tinh hoàn được hồi phục tỷ lệ với chẩn đoán và điều trị sớm:
- Trước 6h 83%
- Trước 10h 70%
- Sau 10h 10%
 Biến chứng:
- Hoại tử tinh hoàn
- Không có khả năng sinh con
XI. Phòng chống
Thông qua phẫu thuật để đính kèm cả hai tinh hoàn vào bên trong của bìu để không thể xoay tự do.




Tài liệu tham khảo:
Lê Ngọc Từ-Bệnh học tiết niệu-Hội tiết niệu thận học Việt Nam
http://khoeplus.net/suc-khoe/benh-xo...tinh-4668.html
http://www.mayoclinic.org/diseases-c...n/con-20033130
http://www.dieutri.vn/sinhsan/14-6-2...-tinh-hoan.htm
http://www.medicalnewstoday.com/articles/190514.php