ADH:
Antidiuretic hormone (ADH) hay còn gọi là Vasopressin là một hormon chống bài niệu được tiết từ các nhân trong phần dưới đồi thị và được vận chuyển xuống thùy
sau tuyến yên bởi các protein vận chuyển. ADH là một peptide gồm 9 acicd amin.
 Công thức hóa học:
ADH: Cys-Tyr-Phe-Gln-Asn-Cys-Pro-Arg-GlyNH2
 Chức năng:
Tác dụng quan trọng nhất của hormone chống bài niệu là để bảo tồn nước trong cơ thể bằng cách giảm sự mất nước trong nước tiểu, đảm bảo cân bằng giữa lượng nước tiểu thu được (ăn uống, ….) và lượng nước mất (mồ hôi, nước tiểu, phân,…).
Cơ chế: Hormon kết hợp với các receptor tại các tế bào biểu mô ống thận kích thích các tế bào tổng hợp một lượng lớn cAMP. Các cAMP tác động lên lớp màng tế bào phía lòng ống thận làm mở các khe tạo điều kiện cho nước có thể đi vào tế bào từ trong lòng ống.
 Điều tiết:
- Thẩm thấu: lượng ADH trong cơ thể được điều tiết nhanh chóng khi nồngđộ thẩm thấu của dịch cơ thể thay đổi.
- Nồng độ Na+ trong dịch ngoại bào: 95% áp suất thẩm thấu của dịch ngoại bào được quyết định bởi ồng độ ion Na+ .
- Thể tích máu: Mất 10% thể tích máu sẽ làm tăng tiết ADH. Mất 25% thể tích máu sẽ làm lượng ADH được tiết cao gấp 50 lần so với lượng ADH tiết ra trong điều kiện bình thường.
- Những yếu tố khác: các yếu tố gây tổn thương cơ giới, gây đau, sự lo lắng, các loại thuốc như morphine, nicotine, thuốc gây tê, gây mê (các loại thuốc này thường dẫn đến hiện tượng giữ lại nước trong cơ thể). Điều này giải thích tại sao khi trải qua trạng thái quá xúc động sẽ có hiện tượng lợi tiểu
Những điều ảnh hưởng đến ADH
Rượu có thể làm giảm số lượng ADH được sản xuất dẫn đến một khối lượng lớn hơn nhiều pha loãng nước tiểu được sản xuất. Điều này có thể dẫn đến mất nước.
Thuốc lắc có tác dụng ngược lại. Nó làm tăng số lượng ADH làm giảm lượng nước tiểu sản xuất.
Cả rượu và thuốc lắc can thiệp vào quy định bình thường của nước trong cơ thể và có thể có ảnh hưởng lâu dài có hại trên cơ thể.
Test đánh giá ADH:
Dùng máu làm bệnh phẩm xét nghiệm.
Cần định lượng ADH khi:
• Sự tích tụ của các chất lỏng trong cơ thể gây ra phù.
• Đa niệu.
• Nồng độ ion Na trong máu thấp.
• Khát dữ dội hoặc không kiểm soát được.
Kết quả: Giá trị bình thường của ADH dao động từ 1 -5 pg/ml.
Kết quả bất thường khi:
Cao: có thể xảy ra khi có quá nhiều ADH được phát hành, hoặc từ não, nơi nó được thực hiện, hoặc từ các nơi khác trong cơ thể. Đây được gọi là Hội chứng không phù hợp ADH (SIADH).
SIADH có thể do:
- Chấn thương sọ não.
- U não.
- Mất cân bằng dịch cơ thể sau phẫu thuật.
- Nhiễm trùng mô não và mô quanh não.
- Nhiễm trùng phổi.
- Ung thư phổi.
- Đột quỵ
Thấp: có thể do:
- Tổn thương tuyến yên.
- Đái tháo nhạt.
- Polydipsia.
Tài liệu tham khảo:
http://www.abpischools.org.uk/page/m...s/kidneys6.cfm
http://www.nlm.nih.gov/medlineplus/e...cle/003702.htm
http://voer.edu.vn/m/hormon-chong-lo...essin/365f33ad