BREAST CANCER (UNG THƯ VÚ)
Ung thư vú là 1 dạng ung thư khởi nguồn từ mô vú, phần lớn là biểu mô ống sữa hoặc các tiểu thùy sữa. Hầu hết ung thư vú xảy ra trên phụ nữ, nhưng nó vẫn có thể xảy ra trên nam giới.
Ung thư vú chiếm tỉ lệ 22,9% ung thư ở phụ nữ (trừ ung thư da không hắc tố) trên thế giới.
Tiên lượng và tỉ lệ sống sót của người bị ung thư vú phụ thuộc rất nhiều vào phân loại, thời kỳ, phương pháp điều trị, và cả nơi ở của bệnh nhân.
1. Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng thường găp đầu tiên là 1 khối u (lump) nổi lên khác với những mô vú còn lại. Người ta có thể chụp X-quang mô vú để tìm khối u (còn gọi là mammogram). Khối u nằm trên những hạch bạch huyết vùng nách cũng là 1 dấu hiệu của ung thư vú.
Những dấu hiệu khác như sự dầy lên của mô vú khác với những mô khỏe mạnh còn lại, 1 bên vú to hơn hoặc nhỏ hơn, 1 núm vú thay đổi vị trí hoặc bị thụt vào trong, da vùng vú nhăn nheo, phát ban trên hay xung quanh núm vú, chảy mủ từ núm vú, đau âm ỉ 1 phần vú hoặc vùng nách, sưng tấy vùng dưới nách hay xung quanh xương đòn. Triệu chứng đau ở vú thường không đáng tin cậy, có thể là dấu hiệu của 1 bệnh khác ở mô vú.
Những dạng đặc biệt khác của ung thư vú như: ung thư viêm vú (sưng, nóng, đỏ, đau, da dạng da cam, có thể không có khối u nên nhiều khi khó chẩn đoán), Bệnh vú Paget, phyllodes tumor (khối u giống như u lành tính sợi tuyến vú)….
Trường hợp ung thư vú đã di căn, triệu chứng phụ thuộc vào cơ quan bị di căn đến, những nơi gặp như: xương, gan, phổi, não. Những triệu chứng như: sụt cân, sốt, lạnh run, đau xương khớp, vàng da, triệu chứng thần kinh… là những triệu chứng không đặc hiệu của ung thư vú di căn.
2. Yếu tố nguy cơ
- Di truyền
- Không có con hoặc không cho con bú
- Béo phì
- Tăng 1 số hormone
- Hút thuốc lá
- Bệnh: tiểu đường, tăng sản ống tuyến, ung thư biểu mô tuyến tại chỗ…
3. Sinh lý bệnh
Cũng như những bệnh ung thư khác, ung thư vú xảy ra khi có 1 sự tương tác giữa yếu tố bên ngoài và yếu tố di truyền của bệnh nhân. Đột biến gen quản lý quá trình chết có chương trình của tế bào khiến tế bào trở nên phân chia vô tổ chức và không chết.
Qua thực nghiệm, sự đột biến gen có lien quan đến hormone estrogen; suy giảm hệ thống miễn dịch giám sát nên không loại bỏ được những tế bào ác tính; những yếu tố tăng trưởng bất thường cũng làm thuận lợi cho sự phát triển của tế bào ung thư.
Gen GATA-3 điều khiển trực tiếp sự biểu hiện của thụ thể estrogen và những gen khác lien quan đến sự phân biệt của những tế bào biểu mô, thiếu GATA-3 dẫn tới thiếu sự chuyên biệt của các tế bào và là tiên lượng xấu vì ung thư đã xâm lấn và di căn
4. Chẩn đoán
Chẩn đoán xác định bằng sinh thiết-giải phẩu bệnh là thường gặp nhất.
Sau những thăm khám lâm sang mà chưa thể chẩn đoán, người thầy thuốc có thể dùng những xét nghiệm cận lâm sàng như:
- Chọc hút bằng kim nhỏ và xét nghiệm tế bào học (FNAC-Fine Needle Aspiration and Cytology)
- Sinh thiết trọn (excisional biopsy) hay một phần khối u (core biopsy or vacuum-assisted breast biopsy)
- Chụp X-quang vú (mammography)
- Siêu âm tuyến vú (ultrasound)
- Chụp cộng hưởng từ (MRI)
5. Phân loại
- Theo mô học: ung thư biểu mô tuyến (ductal carcinoma) hay ung thư biểu mô tiểu thùy (lobular carcinoma), ung thư tại chỗ (carcinoma in situ) hay đã xâm lấn (invasive carcinoma)
- Theo cấp đô (grade): theo sự phân biệt giữa các tế bào: cấp thấp là những tế bào phân biệt cao (differentiated), cấp trung bình là những tế bào phân biệt vừa (moderately differentiated), cấp cao là những tế bào kém phân biệt (poorly differentiated). Những tế bào ở cấp cao mất hoàn toàn những chi tiết giống với tế bào mô vú bình thường, là tiên lượng xấu nhất.
- Theo giai đoạn (stage): phân giai đoạn ở ung thư vú theo hệ thống TNM dựa trên kích thước khối u (Tumor), di căn hạch lympho ở nách (Node), và di căn (Metastasis).
- Tình trạng receptor: tế bào ung thư có những thụ thể nằm trên màng tế bào, trong bào tương hay trong nhân. Có 3 loại receptor quan trọng: estrogen receptor (ER), progesterol receptor (PR), và HER2
Các thụ thể estrogen hiện diện trong khoảng 70% các trường hợp ung thư vú, gọi là "ER dương tính", và có thể chứng minh bằng cách sử dụng hóa mô miễn dịch. Hai giả thuyết đã được đưa ra để giải thích tại sao điều này gây tạo u, và các bằng chứng cho thấy rằng có sự đong góp của cả hai cơ chế:
+ Đầu tiên, estrogen gắn kết lên các thụ thể kích thích phát triển nhanh các tế bào vú, kết quả là gia tăng phân chia tế bào và sao chép DNA, dẫn đến đột biến.
+ Thứ hai, sự chuyển hóa của estrogen sản xuất ra chất thải là chất gây đột biến gen (genotoxic).
6. Điều trị
Như những tb vú bình thường, hầu hết các tb ung thư vú cũng có hormon receptor, việc này quyết định đến phương pháp điều trị.
U vú được gọi là estrogen-receptor positive (ER+) khi tb có receptor cho estrogen. Điều này cho thấy tb ung thư giống tb tuyến vú bình thường, có thể nhận những tín hiệu từ estrogen thúc đẩy sự phát triển các tế bào. Theo đó , tế bào ung thư sẽ có đáp ứng với liệu pháp nội tiết như làm giảm lượng estrogen trong cơ thể hay ngăn estrogen tác dụng lên tb tuyến vú. Nếu ER+, liệu pháp sẽ làm chậm hoặc ngừng phát triển tb bất thường
U vú gọi là estrogen- receptor negetive (ER-) khi tb không có receptor cho estrogen, Việc điều trị liệu pháp nội tiết đối với trường hợp này không khả quan. Nên cần lựa chọn cách điều trị khác.

Điều trị
(ER+):
SERMs ( selective estrogen-receptor response modulators): ngăn tác dụng của estrogen lên vú
Ức chế Aromatase: làm giảm sản xuất estrogen
ERDs (Estrogen-receptor downregulators) ngăn tác dụng estrogen lên vú do ERDs gắn vào vị trí gắn estrogen trên receptor,ERDs còn làm giảm số lượng estrogen receptor và thay đổi hình dạng receptor
LHRHs (Luteinizing hormona-releasing hormona agents) kích thích buồng trứng ngưng tiết estrogen
Cắt buồng trứng
(ER-):
Điều trị liệu pháp nội tiết không đáp ứng.
Có thể dùng phương pháp phẫu thuật, xạ trị hoặc hóa trị để chống lại tb ung thư

Sơ lươc về ung thư da không hắc tố (non-melanoma skin cancer): là 1 dạng tăng sinh ác tính tế bào biểu mô da bao gồm ung thư tế bào đáy (basal cell cancer) và ung thư tế bào gai (squamous cell cancer)
- Ung thư tế bào đáy xuất phát từ lớp thấp nhất của biểu bì, là dạng thường gặp nhất nhưng cũng ít nguy hiểm nhất trong ung thư da
- Ung thư tế bào gai xuất phát từ tế bào lớp giữa của biểu bì, ít phổ biến hơn nhưng cũng dễ di căn hơn, nếu không được điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể tử vong
Ngoài ra, dạng hiếm gặp của ung thư da là ung thư tế bào hắc tố (melanoma), xuất phát từ tế bào sản sinh ra sắc tố ở da, à dạng ung thư da nguy hiểm nhất, di căn và tỉ lệ tử vong cao nhất.
Vì sao trong một bài luận về ung thư vú ta lại nói về ung thư da?
Vì về bản chất phôi thai học, mô vú bao gốm tuyến vú và các tiểu thùy vú đều có nguồn gốc từ lớp ngoại bì phôi (epidermal ectoderm), giống như da, điểm khác biệt là trên các tế bào mô vú có chứa estrogen receptor mà các mô da khác không có.