PHÉP ÐO NIỆU DÒNG - Uroflowmetry:
Là nghiệm pháp đo lượng nước tiểu đào thải ra khỏi cơ thể , đồng thời xác định tốc độ dòng tiểu và thời gian đi tiểu.
Ðây là phép đo duy nhất không xâm lấn (noninvasive) trong các phép đo niệu động học (Urodynamic). Cách đo lại khá đơn giản: chỉ cần bệnh nhân đi tiểu một lượng nước tiểu thích hợp vào phễu hứng của máy đo vốn được gắn kết với một máy biến năng, rồi trọng lượng của nước tiểu sẽ được chuyển thành dung tích và ghi lại thành biểu đồ với tốc độ ml/giây. Phép đo niệu dòng là thông dụng nhất trong các phép đo niệu động học, có thể dùng như là một xét nghiệm tầm soát về chức năng đường tiểu dưới, nhanh chóng và rẻ tiền.
1. Chuẩn bi:
Bệnh nhân nếu đang dùng thuốc phải ngừng sử dụng thuốc tạm thời để tránh sai lệch kết quả.
Đo niệu dòng tốt nhất khi bàng quan căng đầy. Nhịn tiểu 2 giờ trước khi đo.
Ðiều quan trọng nhất khi đánh giá tốc độ dòng tiểu bình thường là xác định dung tích đi tiểu. Ða số các tác giả khuyên nên có một lượng tiểu trên 150 ml thì xét nghiệm mới có giá trị, tốt nhất là trong khoảng 200 - 400 ml.
2. Kết quả bình thường:
Giá trị bình thường rất khác nhau theo độ tuổi và giới tính. Ở nam giới, dòng nước tiểu sẽ suy giảm theo tuổi. Với phụ nữ thì ít thay đổi hơn.
- Từ 4-7 tuổi:
+ Tốc độ dòng tiểu trung bình cả nam lẫn nữ là 10 ml/giây
- Từ 8-13 tuổi:
+ Tốc độ dòng tiểu trung bình ở nam: 12 ml/giây
+ Tốc độ dòng tiểu trung bình ở nữ: 15 ml/giây
- Từ 14-45 tuổi:
+ Tốc độ dòng tiểu trung bình ở nam: 21 ml/giây
+ Tốc độ dòng tiểu trung bình ở nữ: 18 ml/giây
- Từ 46-65 tuổi:
+ Tốc độ dòng tiểu trung bình ở nam: 12 ml/giây
+ Tốc độ dòng tiểu trung bình ở nữ: 18 ml/giây
- Từ 66-80 tuổi:
+ Tốc độ dòng tiểu trung bình ở nam: 9 ml/giây
+ Tốc độ dòng tiểu trung bình ở nữ: 18 ml/giây

3. Ý nghĩa kết quả uroflowmetry
Tốc độ dòng tiểu là kết quả sau cùng của hoạt động đi tiểu, do đó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như sự co bóp cơ chóp bọng đái, sự dãn lỏng của cơ thắt niệu đạo và sự thông suốt của niệu đạo. Do bị tác động bởi nhiều biến số như thế nên một số tác giả khuyên rằng không nên dùng phép đo niệu dòng như là một xét nghiệm chẩn đoán. Tuy nhiên nếu phối hợp niệu dòng đồ với việc đo lượng tiểu tồn lưu, ta có thể ước đoán về tính hiệu quả của hoạt động đi tiểu.
Hình dạng của niệu dòng đồ có thể cung cấp những thông tin hữu ích, chẳng hạn đường biểu diễn không đều đặn có thể do sức rặn của bụng hoặc bất đồng vận bọng đái-cơ thắt.
Trường hợp cơ thắt niệu đạo suy yếu hay tổn thương có thể dẫn tới tăng tốc độ dòng tiểu hoặc tiểu không kiêm soát (urinary incontinence)
Trường hợp bế tắc dòng ra (bladder outlet obstruction) hay suy co bóp cơ chóp (detrusor areflexia or detrusor acontractile) sẽ dẫn tới giảm tốc độ dòng tiểu.
Thực ra, chỉ riêng phép đo niệu dòng thì không đủ để cung cấp thông tin chính xác về dạng thức của rối loạn đi tiểu. Nhiều khi ta không thấy sự khác biệt của niệu dòng đồ giữa bế tắc dòng ra và suy co bóp cơ chóp. Tuy nhiên theo nghiên cứu của Abrams và Griffiths (1979) trên các bệnh nhân nam: khi Q max < 10 ml/s thì 88% được chứng minh là có bế tắc dòng ra.
Một người có kết quả xét nghiệm bất thường cần được điều trị hay không còn cần phải so sánh với những triệu chứng trên lâm sàng và xét nghiệm khác.