ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 1,5
LADA (Latent Autoimmune Diabetes in Adults)
Phạm Thị Phương Hoa_YAK36

I – Định nghĩa:
(1)Bệnh tiểu đường được phân làm 2 loại là ĐTĐ type 1 và type 2. ĐTĐ type 1 là bệnh tự miễn, còn ĐTĐ type 2 không phải là bệnh tự miễn. Tuy nhiên có 1 nhóm các kiểu hình trong bệnh nhân ĐTĐ type 2 (khoảng 10%) có kháng thể tự miễn (autoantibodies) giống như type 1. Những bệnh nhân này được cho là mắc bệnh tự miễn tiềm ẩn ở người lớn (LADA) hay ĐTĐ type 1,5

II – Yếu tố nguy cơ:
(2)Nghiên cứu năm 2006 chỉ ra rằng tăng số tuổi, thừa cân và ít vận động là những yếu tố nguy cơ mạnh mẽ gây bệnh LADA, cũng như ĐTĐ type 2. Những phát hiện này còn cho thấy vai trò của kháng insulin trong cơ chế bệnh sinh của LADA.

III – Cơ chế bệnh sinh:
(3)Trong LADA, hệ miễn dịch trong cơ thể chúng ta sẽ xem các tế bào beta ở tuyến tụy là những “phần tử lạ” và sẽ huy động lực lượng đến mà tiêu diệt những tế bào có nhiệm vụ sản xuất insulin này. Cuối cùng là đa số bị tiêu diệt, tuy nhiên quá trình này diễn ra rất chậm chạp chứ không như trong ĐTĐ týp 1 là các tế bào beta bị tiêu diệt một cách nhanh chóng. Sự hiện diện của những protein vốn “ra lệnh” cho hệ miễn dịch tấn công các tế bào beta chỉ có ở ĐTĐ týp 1 và týp 1.5. Còn trong ĐTĐ týp 2 thì không thấy những protein này.

IV – Triệu chứng lâm sàng:
(4)Các triệu chứng của LADA cũng tương tự như các triệu chứng điển hình của bệnh tiểu đường.
- Polydipsia (hay khát nước, uống)
- polyuria (đi tiểu quá mức)
- often blurry vision (Thường nhìn mờ)
So với bệnh tiểu đường type 1 ở trẻ em, các triệu chứng phát triển từ từ hơn.

V – Cận lâm sàng:
(4)Người ta ước tình rằng có hơn 50% người được chẩn đoán ĐTĐ type 2 nhưng không béo phì có thể mắc LADA. Kháng thể tự miễn GADA (Glutamic acid decarboxylase autoantibody), insulinoma-associated (IA-2), and zinc transporter (ZnT8) được thử nghiệm trên những người trưởng thành ĐTĐ type 2 không có béo phì. Không phải tất cả bệnh nhân LADA đều gầy, nhưng có những người thừa cân mắc LADA bị chẩn đoán nhầm vì cân nặng của họ. Hơn nữa, nó trở nên hiển nhiên rằng bệnh tiểu đường tự miễn được đánh giá cao trong 1 số cá nhân mắc bệnh tiểu đường, và các chỉ số khối cũng hạn chế trong việc chẩn đoán bệnh tiểu đường tự miễn. Ngoài ra, các bác sĩ hoặc chuyên gia không nhận ra LADA hoặc không biết rằng ĐTĐ type 1 có thể xảy ra ở người lớn, và do đó LADA rất hay bị chẩn đoán nhầm là ĐTĐ type 2 hoặc không được chẩn đoán.
1. C-peptid:
XN này đo lường chức năng tế bào beta bằng cách xác định mức độ bài tiết Isulin (C-peptid). Ở người mắc LADA mức độ C-peptid thấp hoặc vừa phải khi bệnh đang tiền triển. Bệnh nhân đề kháng isulin hoặc ĐTĐ type 2 có nhiều khả năng hơn nhưng mức độ C-peptid không phải lúc nào cũng cao do quá sản isulin.
2. Bảng kháng thể tự miễn(Autoantibody panel)
Kháng thể tự miễn GADA (Glutamic acid decarboxylase autoantibody), insulinoma-associated (IA-2), and zinc transporter (ZnT8). GADA thường được tìm thấy trong bệnh ĐTĐ type 1
3. Islet cell antibodies (ICA) tests
- Islet Cell IgG Cytoplasmic Autoantibodies
- Islet Cell Complement Fixing Autoantibodies
- Indirect Fluorescent Antibody (IFA); Islet Cell Autoantibodies Evaluation
- Islet Cell Complement Fixing Autoantibodies
Hỗ trợ trong chẩn đoán phân biệt giữa LADA và ĐTĐ type 2. Bệnh nhân LADA thường dương tính với ICA test, ngược lại rất hiếm trong ĐTĐ type 2
(5)Sự thay đổi nồng độ kháng thể đặc hiệu GAD65Ab có tương quan với sự thay đổi nồng độ C-peptid và sự tiến triển thành đảo tế bào tự miễn. Sự liên quan chặt chẽ giữa kháng thể đặc hiệu GAD65Ab và chức năng tế bào beta có thể cung cấp thông tin về sự tiến triển cho bệnh tiểu đường tự miễn.
4. Test kháng thể GAD (Glutamic acid decarboxylase antibodies tests)
(6)Microplate ELISA: Anti-GAD, Anti-IA2, Anti-GAD/IA2 Pool
Ngoài việc sử dụng trong chẩn đoán sớm ĐTĐ type 1, GAD test còn được dùng để phân biệt LADA và ĐTĐ type 2, cũng có thể được sử dụng để chẩn đoán phân biệt bệnh tiểu đường thai kỳ, dự báo nguy cơ ĐTĐ type 1 trong các thành viên gia đình ngay lập tức , cũng như một công cụ để theo dõi tiên lượng diễn tiến lâm sàng của ĐTĐ type 1.
5. Test kháng thể Isulin (Insulin antibodies (IAA) tests)
RIA: Anti-GAD, Anti-IA2, Anti-Insulin; Insulin Antibodies
Các xét nghiệm này cũng được sử dụng trong chẩn đoán sớm cho ĐTĐ type 1, và cho chẩn đoán phân biệt giữa LADA và ĐTĐ type 2, cũng như chẩn đoán phân biệt bệnh tiểu đường thai kỳ, dự báo nguy cơ trong các thành viên gia đình ngay lập tức ĐTĐ type 1, và theo dõi tiên lượng sự tiến triển lâm sàng của ĐTĐ type 1. Người có LADA có thể kiểm tra dương tính với kháng thể (GAD, ICA, IA-2, ZnT8); kháng thể tự miễn không có mặt ở những người có ĐTĐ type 2.

Đặc điểm khác của LADA có thể hỗ trợ trong chẩn đoán phân biệt bao gồm:
- Khởi phát thường là 25 tuổi trở lên
- Ban đầu giống ĐTĐ type 2 không có béo phì (bệnh nhân thường gầy hoặc cân nặng bình thường, mặc dù một số có thể thừa cân đến béo phì)
- Thường xuyên, nhưng không phải luôn luôn không có tiền sử gia đình ĐTĐ type 2 (tiền sử gia đình có ĐTĐ type 2 đôi khi liên quan đến LADA)
- Người mắc LADA có kháng thể insulin, nhưng ở mức độ ít hơn type 2
- Gen kháng nguyên bạch cầu người (HLA) liên quan đến bệnh tiểu đường loại 1 được nhìn thấy trong LADA nhưng không có trong ĐTĐ type 2
- Mặc dù một số người có ĐTĐ type 2 có thể tiêm insulin, điều nàyhiếm khi xảy ra, ngược lại, những người có LADA cần tiêm insulin khoảng ba đến 12 năm sau khi được chẩn đoán.

VI – Điều trị:
LADA thường không yêu cầu insulin ở thời điểm chẩn đoán và thậm chí có thể được quản lý bằng việc thay đổi lối sống trong giai đoạn đầu như tập thể dục , ăn uống thích hợp, và giảm cân nếu có chỉ định. Tuy nhiên , một số bác sĩ tin rằng insulin nên được bắt đầu khởi phát hoặc càng sớm càng tốt , thay vì sử dụng sulfonylurea hoặc thuốc tiểu đường khác để điều trị ban đầu .Điều này giúp bảo tồn chức năng tế bào beta lâu hơn.
Ban đầu, một người LADA có thể đáp ứng với thuốc tiểu đường , ăn một cách thích hợp và thay đổi lối sống , mặc dù các tế bào beta tiếp tục bị phá hủy và bệnh nhân LADA cần được theo dõi chặt chẽ. Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng việc sử dụng sulfonylurea và metformin thuốc insulin nhạy cảm , có thể làm tăng nguy cơ rối loạn chuyển hóa nặng ở những người bị LADA . Khi lượng đường trong máu không thể kiểm soát thông qua lối sống và thuốc men, tiêm insulin hàng ngày sẽ được yêu cầu .
80% người chẩn đoán ban đầu với loại 2 nhưng kiểm tra dương tính với GAD ( một dấu hiệu của LADA ) tiến lượng phụ thuộc insulin trong vòng 6 năm (một số nguồn tin cho biết khoảng 3-12 năm sau khi chẩn đoán ) .Những người xét nghiệm dương tính cho cả GAD và IA2 , tuy nhiên , sẽ tiến bộ nhanh hơn đến lệ thuộc insulin .
Sống chung với bất kỳ bệnh mãn tính nào cũng gây căng thẳng, và bệnh nhân tiểu đường ,một mình LADA , có thể dẫn đến bị trầm cảm và rối loạn ăn uống. Tư vấn, điều trị , và tham gia vào các nhóm hỗ trợ có thể đóng một vai trò quan trọng và tích cực trong cuộc sống của người bệnh LADA
Một phần của điều trị bệnh tiểu đường nên bao gồm giáo dục bệnh nhân về chế độ ăn uống , tập thể dục, quản lý stress, và điều trị biến chứng của bệnh tiểu đường . Bệnh nhân cần phải hiểu làm thế nào để quản lý bệnh tiểu đường của họ , cũng như làm thế nào để nhận ra, điều trị và ngăn ngừa hạ đường huyết (đường trong máu thấp) và tăng đường huyết (đường trong máu cao ) và làm thế nào để cung cấp cho tiêm insulin và glucagon . Lượng đường trong máu cần được kiểm tra không ít hơn 3-4 lần mỗi ngày khi bệnh nhân phụ thuộc insulin, và thường xuyên, ít nhất một lần trong đêm.

Tài liệu tham khảo:
(1) http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/16306342
(2) http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/17096113
(3) http://ycantho.com/content/6/20/2232...g-type-15.html
(4) http://en.wikipedia.org/wiki/Latent_autoimmune_diabetes
(5) http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/20685858
(6) http://www.biocompare.com/Lab-Equipm...lates-96-well/