_Brain Natriuretic peptides( BNP) là kích thích tố chủ yếu do tế bào tâm thất tiết ra khi tâm thất bị căng do thể tích máu lưu thông tăng.( lúc đầu người ta thấy ở não nên mới có tên là Brain Natriuretic peptides).
_Còn Atrial Natriuretic Peptides( ANP) do tâm nhĩ tiết ra khi nó bị căng.
_ANP và BNP đều tăng thải natri trong nước tiểu, do đó có tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp. ANP và BNP ức chế hệ thống renin-angiotensin, endothelin và họat tính giao cảm tại thận và trong cơ thể. Tăng tiết ANP và BNP trong suy tim có lợi vì ngăn cản tác dụng của norepinephrine, endothelin và angiotensin II, hạn chế sự co mạch và ứ đọng sodium. BNP tăng cao hơn ANP nên ta ứng dụng đặc tính này để chẩn đoán suy tim.
1. Dùng BNP để chẩn đoán suy tim - BNP trên 500 pg/ml chẩn đoán suy tim, BNP dưới 100 pg/ml lọai bỏ khả năng suy tim.
2. Dùng BNP để hướng dẫn sự điều trị - BNP có thời gian bán hủy ngắn, do đó có thể theo dõi lượng BNP để điều chỉnh sự điều trị trong suy tim cấp cũng như mãn
3. Dùng BNP để đánh giá tiên lượng . Những bệnh nhân có nồng độ BNP trong phần tư cao nhất (highest quartile- 238 pg/ml) có ỉt lệ tử vong trong 2 năm cao hơn số bệnh nhân có nồng đọ BNP trong phần tư thấp nhất (lowest quartile-dưới 41 pg/ml). BNP tiếp tục cao sau khi đã điều trị tối đa cho thấy tiên lượng xấu
4. Dùng BNP để tiên lượng các biến chứng.
Vai trò cuả BNP đặc biệt quan trọng khi đứng trước một bệnh nhân đang khó thở . Khó thở cấp tính có thể vì lý do tại phổi hay tại tim. BNP giúp tách hai trường hợp này ra: nếu BNP tăng thì khó thở này thường do nguyên nhân ở tim: suy tim xung huyết.

Cũng cần ghi nhận rằng BNP tăng theo tuổi, cao hơn ở phụ nữ so với nam giới, tăng trong suy thận và thấp ở người mập. Phần lớn các bệnh nhân khó thở vì suy tim có nồng độ BNP trên 400 pg/ml trong khi trị số dưới 100 khiến có thể lọai bỏ suy tim. Trị số từ 100-400 không giúp xác định hay lọai bỏ suy tim, có thể do thuyên tắc mạch máu phổi, bệnh tim phổi

BNP có thể không cần thiết trong trường hợp này nếu ta tận dụng các yếu tố lâm sàng như lượng nước xuất nhập, nghe tiếng ngựa phi T3, T4, tĩnh mạch cổ nổi…lưỡi bệnh nhân này khô vì ông chỉ còn răng cửa của hàm dưới và thở bằng miệng chứ không phải vì thiếu nước. Tiếng T3 tuy tương ứng với giảm cung lượng tim nhưng không luôn luôn nghe được



http://www.yduocngaynay.com/4-4NgVDich_Peptid_BNP.htm
http://www.benhvienlongxuyen.com/nuk...iewst&sid=6966
http://diendanykhoa.com/showthread.php?t=913
http://en.wikipedia.org/wiki/Brain_natriuretic_peptide
http://www.jpgmonline.com/article.as...;aulast=Bhatia
http://health.yahoo.com/heart-diagno...e--ux1072.html.