kết quả từ 1 tới 5 trên 5

Ðề tài: viêm ruột thừa

  1. #1
    nghia209
    Guest

    Default viêm ruột thừa

    Chủ Đề: Default viêm ruột thừa

    ►Lượt Xem: 11323 ►Trả Lời: 4
    ►Chia Sẽ:
    ►Ngày Gửi: 16-06-09 ►Đánh Giá: Sao



    Ruột thừa (ruột dư) là một đoạn ruột hẹp, kín, tận cùng, dài khoảng vài centimet và bám dính vào manh tràng (đoạn đầu tiên của ruột già). Lớp lót bên trong lòng ruột thừa tiết ra ít chất nhầy và chảy vào manh tràng. Thành của ruột thừa chứa mô bạch huyết, là một phần của hệ miễn dịch sản xuất kháng thể. Giống như những đoạn còn lại của đại tràng (ruột già) thì thành của ruột thừa cũng có chứa lớp cơ nhưng lớp cơ này phát triển kém.

    Viêm ruột thừa là tình trạng viêm của ruột thừa. Người ta nghĩ rằng viêm ruột thừa là do lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng bị tắc nghẽn. Hiện tượng tắc nghẽn này là do tích tụ nhiều chất dịch nhầy trong lòng ruột thừa hoặc do phân từ manh tràng đi vào ruột thừa. Chất nhầy hay phân trở nên cứng, giống như đá và làm tắc nghẽn lỗ thông. Hiện tượng phân cứng như đá được gọi là "sỏi phân" (phân có kích thước bằng hạt đậu, cứng và bị can xi hóa gây tắc nghẽn lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng). Có thể có hiện tượng mô bạch huyết của ruột thừa bị phù và làm tắc nghẽn ruột thừa. Sau khi hiện tượng tắc nghẽn xãy ra, các vi khuẩn bình thường thường trú trong lòng ruột thừa bắt đầu xâm lấn vào thành ruột thừa. Cơ thể đáp ứng với hiện tượng xâm lấn này bằng cách tấn công các vi khuẩn. Hiện tượng tấn công các vi khuẩn đó được gọi là viêm.
    Nếu hiện tượng viêm và nhiễm trùng lan rộng đến thành ruột thừa thì ruột thừa sẽ bị vỡ ra. Sau khi ruột thừa vỡ, nhiễm trùng sẽ lan rộng vào trong ổ bụng. Tuy nhiên hiện tượng nhiễm trùng này thường giới hạn thành một vùng nhỏ xung quanh ruột thừa được gọi là áp xe quanh ruột thừa.
    Đôi khi viêm ruột thừa có thể tự khỏi mà không cần phẩu thuật nếu hiện tượng viêm và nhiễm trùng không lan rộng vào ổ bụng. Viêm, đau và các triệu chứng sẽ biến mất. Trường hợp này có thể gặp ở những người già và được sử dụng kháng sinh. Những bệnh nhân này có thể một thời gian lâu sau khi bị viêm ruột thừa sẽ đến gặp bác sĩ vì một khối ở vùng bụng dưới phải do kết quả của hiện tượng tự "chữa lành" của cơ thể.

    TRIỆU CHỨNG CỦA VIÊM RUỘT THỪA:

    Triệu chứng chính của viêm ruột thừa là đau bụng. Đầu tiên, đau thường lan tỏa và ít khu trú thành một điểm đau cụ thể. Đau ít khu trú là điển hình của các bệnh lý ở ruột non, ruột già và kể cả ruột thừa. Đau thường khó xác định vị trí cụ thể. Sau đó có thể xuất hiện các triệu chứng sớm của viêm ruột thừa như ăn mất ngon miệng và có thể diễn tiến đến buồn nôn và thậm chí nôn ói. Các triệu chứng buồn nôn, nôn có thể gặp ở giai đoạn trễ khi có hiện tượng tắc ruột.
    Khi hiện tượng viêm ruột thừa tiếp tục diễn tiến, nó sẽ lan rộng ra lớp ngoài cùng của ruột thừa và sau đó đến lớp lót ổ bụng, một màng mỏng được gọi là phúc mạc. Khi phúc mạc bị viêm thì triệu chứng đau có thể thay đổi và khu trú tại một vùng nhỏ. Thông thường, vùng đau này nằm giữa điểm lồi ra phía trước của xương chậu bên phải và rốn. Điểm đau chính xác trong viêm ruột thừa mang tên bác sĩ Charles McBurney, được gọi là điểm McBurney. Nếu ruột thừa bị vỡ thì nhiễm trùng sẽ lan tỏa khắp ổ bụng và triệu chứng đau lúc này cũng sẽ lan tỏa.

    CHẨN ĐOÁN:

    Lâm sàng:
    Dấu hiệu thực thể điển hình của viêm ruột thừa là đau lan toả ở vùng rốn, và trở nên khu trú tại điểm McBurney nếu ruột thừa viêm tiếp xúc với phúc mạc thành. Điểm này nằm tại điểm 1/3 ngoài của đường nối gai chậu trước trên và rốn, hoặc khoảng bề rộng của bàn tay.

    Các phương pháp khác gồm thăm trực tràng bằng ngón tay (hay khám trực tràng qua đường hậu môn) - nếu đau ở phía phải (vị trí bình thường của ruột thừa), nó làm tăng khả năng chẩn đoán viêm ruột thừa.

    Các dấu hiệu khác dùng trong chẩn đoán viêm ruột thừa là dấu cơ thắt lưng-chậu (thường ở viêm ruột thừa sau manh tràng), dấu lỗ bịt (trong), dấu Blomberg và dấu Rovsing.

    Cận lâm sàng:
    • Công thức máu: Bạch cầu trong máu thường tăng khi có nhiễm trùng. Trong viêm ruột thừa giai đoạn sớm, khi chưa có nhiễm trùng thì bạch cầu có thể bình thường, nhưng hầu hết các trường hợp là bạch cầu tăng nhẹ ở giai đoạn sớm. Tuy nhiên viêm ruột thừa không phải là nguyên nhân duy nhất làm tăng bạch cầu. Hầu hết các trường hợp viêm nhiễm đều có thể có hiện tượng bạch cầu tăng cao bất thường. Do đó bạch cầu tăng cao không phải là dấu hiệu đặc hiệu của viêm ruột thừa.

    • Tổng phân tích nước tiểu: Đây là xét nghiệm nước tiểu bằng cách xem xét dưới kính hiển vi nhằm phát hiện sự hiện diện của hồng cầu, bạch cầu và vi khuẩn trong nước tiểu. Tổng phân tích nước tiểu thường cho kết quả bất thường khi có hiện tượng viêm hoặc có sỏi trong thận hay bàng quang (bọng đái). Kết quả của tổng phân tích nước tiểu cũng có thể bất thường khi bệnh nhân bị viêm ruột thừa bởi vì ruột thừa nằm gần niệu quản và bàng quang. Nếu viêm ruột thừa đủ lớn thì cũng có thể lan đến niệu quản và bàng quang và làm cho kết quả tổng phân tích nước tiểu bất thường. Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp viêm ruột thừa có kết quả tổng phân tích nước tiểu bình thường. Do đó nếu kết quả tổng phân tích nước tiểu bình thường thì gợi ý đến trường hợp viêm ruột thừa nhiều hơn là nhiễm trùng đường tiết niệu.

    • X quang bụng: Có thể phát hiện sỏi phân làm tắc nghẽn lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng và gây nên viêm ruột thừa. Hiện tượng này đặc biệt đúng ở trẻ nhỏ.

    • Siêu âm: Đây là một xét nghiệm không gây đau và dùng sóng siêu âm để xác định các cơ quan trong cơ thể. Siêu âm có thể phát hiện ruột thừa bị phình to hoặc bị áp xe. Tuy nhiên, trong viêm ruột thừa thì tỷ lệ siêu âm phát hiện ruột thừa chỉ là 50%. Do đó, khi siêu âm không thấy ruột thừa thì không có nghĩa là bệnh nhân không bị viêm ruột thừa. Siêu âm giúp ích đối với phụ nữ vì nó có thể giúp loại trừ các bệnh lý ở buồng trứng, vòi trứng (vòi fallop), tử cung mà có thể có triệu chứng giống với viêm ruột thừa.


    • Thụt tháo bằng bari: Đây là một hình thức chụp x quang sau khi bơm bari dạng lỏng vào hậu môn để làm đầy đại tràng. Xét nghiệm này sẽ cho những hình ảnh của đại tràng ở vị trí của ruột thừa, nơi mà hiện tượng viêm ở những vùng xung quanh có thể làm ảnh hưởng đến đại tràng. Phương pháp này có thể giúp chẩn loại trừ những bệnh lý khác của ruột mà có biểu hiện tương tự với viêm ruột thừa.

    ĐIỀU TRỊ:

    Trong phẩu thuật cắt ruột thừa, đầu tiên là rạch một vết dài khoảng từ 5-7cm ở ngoài da thuộc vùng bụng dưới phải, rồi vào đến các lớp tiếp theo của thành bụng. Sau khi đã vào đến ổ bụng thì tìm kiếm ruột thừa. Sau khi đã tìm thấy được ruột thừa thì bác sĩ phẩu thuật sẽ quan sát các khu vực xung quanh đó xem có bị viêm nhiễm gì không. Nếu không có vấn đề gì thì sẽ tiến hành cắt ruột thừa. Đầu tiên là bóc tách ruột thừa ra khỏi mạc treo của nó dính vào vùng bụng và manh tràng, sau đó cắt bỏ ruột thừa và khâu lại lỗ của vết cắt trên manh tràng. Nếu có áp xe thì đặt ống dẫn lưu (bằng cao su hay plastic) để mủ chảy từ ổ áp xe ra ngoài. Sau đó đóng bụng lại.

    Điều trị bằng nội soi:
    Video minh họa phẫu thuật nội soi VRT:http://www.yourfilehost.com/media.ph...file=32876.flv

    BIẾN CHỨNG:

    • Thủng ruột thừa: Hay còn được gọi là vỡ ruột thừa. Đây là biến chứng thường gặp nhất của viêm ruột thừa. Thủng ruột thừa có thể gây ra áp xe quanh ruột thừa hoặc nặng hơn là viêm phúc mạc lan tỏa (Nhiễm trùng toàn bộ màng bụng, là lớp lót bên trong ổ bụng, và vùng chậu). Nguyên nhân chính của thủng ruột thừa là chẩn đoán và điều trị trể. Nói chung, khoảng thời gian giữa chẩn đoán và điều trị phẩu thuật càng dài thì nguy cơ bị thủng ruột thừa càng cao. Tại thời điểm 36 giờ kể từ khi các triệu chứng đầu tiên khởi phát thì nguy cơ thủng ruột thừa thấp nhất là 15%. Do đó, một khi chẩn đoán là viêm ruột thừa thì nên tiến hành phẩu thuật, tránh những trì hoãn không cần thiết.

    • Tắc ruột: Biến chứng này ít gặp hơn. Tắc ruột xuất hiện khi hiện tượng viêm xung quanh ruột thừa làm cho cơ của thành ruột ngưng hoạt động, ngăn cản không cho các thành phần bên trong lòng ruột được đẩy đi. Nếu đoạn ruột bên trên chổ tắc nghẽn chứa đầy dịch và chất lỏng thì bụng sẽ chướng và bệnh nhân cảm thấy buồn nôn hoặc nôn. Điều này có thể cần đến việc dẫn lưu các thành phần bên trong ruột ra bên ngoài thông qua một ống được luồn vào mũi, thực quản, đến dạ dày và ruột.

    • Nhiễm trùng huyết: Là hiện tượng vi khuẩn gây nhiễm trùng từ ruột thừa vào dòng máu và đi khắp cơ thể. Đây là một biến chứng nguy hiểm, có thể đe dọa tính mạng. Nhưng cũng may mắn là biến chứng này ít gặp.

    BIẾN CHỨNG CỦA CẮT RUỘT THỪA:

    • Nhiễm trùng vết mổ: Đây là biến chứng thường gặp nhất. Biến chứng nhiễm trùng này có thể nhẹ hoặc nặng như đỏ và đau vết mổ trong trường hợp nhẹ cho đến mức độ trung bình là chỉ cần dùng kháng sinh và nặng là vừa dùng kháng sinh vừa phải phẩu thuật. Nhiễm trùng vết mổ ít gặp ở trường hợp phẩu thuật bằng nội soi ổ bụng hơn.

    • Áp xe: là hiện tượng tích tụ mủ xung quanh vùng ruột thừa.


    CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT:

    • Viêm túi thừa Meckel
    • Bệnh lý viêm nhiễm vùng chậu:
    • Bệnh lý viêm nhiễm ở vùng bụng trên phải:
    • Viêm túi thừa bên phải:

    NGUỒN:

    http://www.giaoducsuckhoe.net/articl...&SpecialtyID=3

    http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%C3%A...t_th%E1%BB%ABa

    http://www.yourfilehost.com/media.ph...file=32876.flv

  2. #2
    boorin88
    Guest

    Default phân biệt đám quánh ruột thừa và áp xe ruột thừa


    Boorin88 xin nói thêm bài này chút xíu.
    I/ Phôi thai học, giải phẫu bệnh:
    1/ Phôi thai học:- Manh tràng và ruột thừa là kết quả của 2 hiện tượng cuối cùng xảy ra lúc bào thai:
    + nụ manh tràng quay ngược chiều kim đồng hồ đến hố chậu phải. Sự quay không hoàn toàn dẫn đến những vị trí khác nhau của manh tràng và ruột thừa.
    + sự phát triển của nụ manh tràng ra phía ngoài và phía trước với tốc độ phát triển của manh trang nhanh hơn nên nó đẩy ruột thừa ra phía sau và vào trong.
    - Trẻ em: ruột thừa hình nón, đáy tiếp giáp manh tràng, lòng ruột rộng nên trẻ em ít bị viêm ruột thừa, nhưng khi ruột thừa thủng phân từ manh tràng dễ trào ra dễ gây viêm phúc mạc nhanh.
    - Ruột thừa và ruột non có chung nguồn gốc ruột giữa nên đau khởi đầu do hệ thần kinh tự động tryền về đám rối quanh rốn hoặc đám rối dương ở thượng vị.

    2/ Giải phẫu bệnh:
    Khi viêm ruột thừa có thể ở các dạng:
    - VRT sung huyết
    - VRT nung mủ
    - VRT hoaji tử

    II/ Sinh lý bệnh:
    diễn tiến viêm ruột thừa tùy tuộc vào 4 yếu tố:
    - thể tích lòng ruột thừa
    - mức độ tắc nghẽn
    - xuất tiết của niêm mạc ruôt thừa
    - tính không đàn hồi của thanh mạc ruột thừa

    III/ Triệu chứng lâm sàng:
    1/ Cơ năng:
    - đau bụng
    - rối loạn tiêu hóa
    - tiểu khó hoặc tiểu dắt
    2/ thực thể:
    - nhìn: đến sớm bụng di động theo nhịp thở, trễ di động kém
    - các điểm đau:
    + Mc Burney
    + điểm Lanz
    + điểm clado
    + điểm trên mào chậu (khi ruột thừa nằm sau manh tràng)
    +phản ứng dội Blumberg
    + dấu Rovsing
    + dấu cơ thắt lưng chậu
    + dấu cơ bịt
    + dấu hiệu ho gây đau nhiều ở vùng hố chậu phải: triệu chứng có ích trong chẩn đoán viêm phúc mạc khu trú
    + thăm âm đạo hay trực tràng: khi nghi VRT thể tiểu khung, thành bụng không co cứng và không đau.
    3/ toàn thân:
    - VRT cấp: sốt nhẹ, mạch tăng nhẹ
    - VRT có biến chứng: sốt cao
    - nhiễm trùng: môi khô, lưỡi bẩn
    4/ TRIỆU CHỨNG VIÊM RUỘT THỪA VỠ: các diễn tiến thường gặp:
    - viêm phúc mạc toàn thể.
    - áp xe ruột thừa:
    + ruột thừa vỡ được thành hóa bởi các tạng xung quanh (ruột, mạc nối lớn,...) tạo nên áp xe ruột thừa
    + là 1 ổ mủ ngăn cách rõ rệt với xoang bụng còn lại.
    + Khám thấy một vùng sưng rất đau ở hố chậu phải, ranh giới xung quanh rõ. Thăm trực tràng có thể sờ thấy một khối lùng nhùng.
    + bệnh nhân có thể đi tiêu chảy và tiểu dắt
    + phần bụng còn lại mềm, nắn không đau.
    + tiếng ruột còn
    - đám quánh ruột thừa:
    + ruột thừa viêm được các cấu trúc xung quanh bao bọc, không có hoặc có rất ít mủ.
    + khám hố chậu phải một mảng tưoơng đối cứng như là sờvào một tấm bìa dầy, ranh giới xung quanh không rõ, đau it và ngày một giảm dân rồi hết hẳn đau
    + có thể tự khỏi nhưng cũng có thể viêm lại về sau

    reference:
    Bệnh học ngoại khoa tiêu hóa - bộ môn ngoại đại học y dược thành phố HCM
    Tài liệu ebook embryology.
    thay đổi nội dung bởi: boorin88, 11-07-09 lúc 10:49 AM Lý do: sai chut xiu

  3. #3
    DarkoftheSun
    Guest

    Default



    Viêm phúc mạc, áp xe ruột thừa và đám quánh ruột thừa như bạn nói ở trên là biến chứng sớm.
    Biến chứng muộn là:
    tắc ruột
    thoát vị thành bụng
    biến chứng ở phổi
    áp xe não
    viêm màng ngoài tim





    nguồn:
    http://forum.dany1b.com/viewtopic.php?f=51&t=725
    http://dany3.com/showthread.php?p=4243
    thay đổi nội dung bởi: DarkoftheSun, 10-07-09 lúc 09:52 PM

  4. #4
    Senior Member

    Tham gia ngày
    Nov 2009
    Bài gởi
    171

    Post Đái máu trong viêm ruột thừa - nhóm 5 swim or sink


    Tổng phân tích nước tiểu: Đây là xét nghiệm nước tiểu bằng cách xem xét dưới kính hiển vi nhằm phát hiện sự hiện diện của hồng cầu, bạch cầu và vi khuẩn trong nước tiểu. Tổng phân tích nước tiểu thường cho kết quả bất thường khi có hiện tượng viêm hoặc có sỏi trong thận hay bàng quang (bọng đái). Kết quả của tổng phân tích nước tiểu cũng có thể bất thường khi bệnh nhân bị viêm ruột thừa bởi vì ruột thừa nằm gần niệu quản và bàng quang. Nếu viêm ruột thừa đủ lớn thì cũng có thể lan đến niệu quản và bàng quang và làm cho kết quả tổng phân tích nước tiểu bất thường. Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp viêm ruột thừa có kết quả tổng phân tích nước tiểu bình thường. Do đó nếu kết quả tổng phân tích nước tiểu bình thường thì gợi ý đến trường hợp viêm ruột thừa nhiều hơn là nhiễm trùng đường tiết niệu.
    Theo "bệnh học ngoại khoa tiên hóa " đhyd tphcm , trang 184:

    "Ruột thừa nằm gần bàng quang hay niệu quản có thể gây ra các triệu chứng tiểu lắt nhắt, tiểu ra máu hay tiểu đục. Viêm bàng quang thường hiếm xảy ra ở nam giới không có đặt thông tiểu trước đây. Ở nam giới có triệu chứng của viêm bàng quang rõ phải tính đến khả năng ruột thừa ở vùng chậu bị viêm."

    Theo Harrison's Internal Medicine > Chapter 294. Acute Appendicitis and Peritonitis >

    "The urine may contain a few white or red blood cells without bacteria if the appendix lies close to the right ureter or bladder. Urinalysis is most useful in excluding genitourinary conditions that may mimic acute appendicitis."

    Theo Washington Manual of Surgery,The, 5th Edition > Acute Abdominal Pain and Appendicitis

    "When the appendix is retrocecal or behind the ileum, it may be separated from the anterior abdominal peritoneum, and abdominal localizing signs may be absent. Irritation of adjacent structures can cause diarrhea, urinary frequency, pyuria, or microscopic hematuria depending on location."
    Người ta thường hay hiểu lầm giữa hai từ thành công và chiến thắng. Chiến thắng có nghĩa là giành được giải thưởng, còn thành công không có nghĩa là phải đạt được giải thưởng. Nếu bạn là người đã cố gắng hết khả năng mình cho một việc nào đó thì dù kết quả ra sao bạn cũng là người thành công.

  5. #5
    playkeyboard
    Guest

    Default


    1/kịch bản viêm ruột thừa theo vị trí giải phẫu

    2/ thăm khám bệnh nhân viêm ruột thừa:


    3/ phẫu thuật cắt ruột thừa nội soi:

    (chỉ mang tính tham khảo vì em thấy gắn với bệnh nhân dễ nhớ hơn **^.^**)

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Trang Chủ YCanTho Copyright © 2012-2013 Diễn đàn YCantho
S2 ĐỂ BLOUSE MÃI TRẮNG
Vui lòng trích dẫn "www.ycantho.com" khi bạn phát hành thông tin từ Ycantho.
Múi giờ GMT. Hiện tại là 01:47 AM.