1. Chẩn đoán
Tầm soát qua nội soi thực quản dạ dày để xác định giãn tĩnh mạch thực quản và dạ dày được khuyến cáo đối với những bệnh nhân đã được chẩn đoán xơ gan.
Khi nội soi, giãn tĩnh mạch thực quản cần được phân loại. Sự hiện diện của dấu đỏ cần được ghi nhận.

2. Quản lý bệnh nhân xơ gan và không có giãn tĩnh mạch thực quản
Đối với bệnh nhân xơ gan và không có giãn tĩnh mạch thực quản, ức chế beta không chọn lọc không được khuyến cáo dùng với mục đích phòng ngừa.
Đối với bệnh nhân xơ gan còn bù và không phát hiện giãn tĩnh mạch thực quản trong lần nội soi đầu tiên, cần nội soi lặp lại mỗi 3 năm. Đối với bệnh nhân có bằng chứng xơ gan mất bù và không phát hiện giãn tĩnh mạch thực quản, cần nội soi lặp lại hàng năm.

3. Quản lý bệnh nhân xơ gan, giãn tĩnh mạch thực quản nhẹ (F1) và không chảy máu
Đối với bệnh nhân xơ gan, giãn tĩnh mạch thực quản nhẹ, không chảy máu nhưng có bằng chứng tăng nguy cơ chảy máu (Child B/C hay sự xuất hiện của dấu đỏ), ức chế beta không chọn lọc được khuyến cáo để phòng ngừa tiên phát.
Đối với bệnh nhân xơ gan, giãn tĩnh mạch thực quản nhẹ, không chảy máu và không có bằng chứng tăng nguy cơ chảy máu, ức chế beta không chọn lọc có thể được sử dụng, tuy nhiên bằng chứng về hiệu quả lâu dài chưa được xác nhận.
Đối với bệnh nhân xơ gan, giãn tĩnh mạch thực quản nhẹ, không chảy máu không sử dụng ức chế beta không chọn lọc, nội soi thực quản dạ dày cần thực hiện lại mỗi 2 năm. Đối với bệnh nhân xơ gan mất bù, giãn tĩnh mạch thực quản nhẹ, không chảy máu, cần thực hiện nội soi lại mỗi năm. Đối với bệnh nhân giãn tĩnh mạch thực quản nhẹ đang sử dụng ức chế beta không chọn lọc, theo dõi qua nội soi không cần thiết.

4. Quản lý bệnh nhân xơ gan, giãn tĩnh mạch thực quản lớn (F2 và F3), không chảy máu
Đối với bệnh nhân xơ gan, giãn tĩnh mạch thực quản lớn, không chảy máu có kèm theo nguy cơ chảy máu (child B/C hoặc dấu đỏ), ức chế beta không chọn lọc hoặc cột bằng dây thun được khuyến cáo sử dụng để phòng ngừa tiên phát.
Đối với bệnh nhân xơ gan, giãn tĩnh mạch thực quản lớn, không chảy máu và không kèm nguy cơ chảy máu (child A và không có dấu đỏ), ức chế beta không chọn lọc được ưa thích hơn và cột bằng dây thun được đề nghị đối với bệnh nhân có chống chỉ định với ức chế beta không chọn lọc hoặc không dung nạp được thuốc.
Ức chế beta không chọn lọc cần được sử dụng với liều tối đa có thể dung nạp được. Đối với bệnh nhân đã được sử dụng ức chế beta không chọn lọc, không cần thiết nội soi kiểm tra. Đối với bệnh nhân được cột dây thun, cần kiểm tra mỗi 1-2 tuần cho đến khi tất cả giãn tĩnh mạch đều được cột. Sau đó, kiểm tra lại 1-3 tháng. Sau đó, kiểm tra lại mỗi 3-6 tháng.
Nitrates (một mình hay kết hợp với ức chế beta), tạo shunt và chích xơ hóa không được khuyến cáo phòng ngừa tiên phát.

5. Quản lý bệnh nhân xơ gan và vỡ giãn tĩnh mạch thực quản
Bệnh nhân xơ gan và vỡ giãn tĩnh mạch thực quản cần được theo dõi sát, điều trị bằng bù dịch và máu, giữ hemoglobin trên 8 mg/dL.
Kháng sinh dự phòng ngắn ngày (tối đa 7 ngày) cần được sử dụng đối với tất cả bệnh nhân xơ gan và xuất huyết tiêu hóa. Norfloxacin dạng uống (400 mg 2 lần/ngày) hay ciprofloxacin tiêm mạch (đối với bệnh nhân không uống được) là những kháng sinh được khuyến cáo. Đối với bệnh nhân xơ gan Child B/C, ceftriaxone (1g/ngày) tốt hơn đặc biệt đối với khoa phòng có tỷ lệ kháng quinolone cao.
Somatostatin cần được sử dụng càng sớm càng tốt, và duy trì 3-5 ngày sau khi xuất huyết được chẩn đoán.
Nội soi thực quản dạ dày, thực hiện sớm trước 12h, cần được thực hiện để chẩn đoán và điều trị. Các phương pháp điều trị được khuyến cáo là cột bằng dây thun hoặc chích xơ cầm máu.
TIPS được chỉ định đối với bệnh nhân chảy máu không kiểm soát hay chảy máu tái phát mặc dù đã kết hợp điều trị thuốc và nội soi.
Chèn bóng cầm máu (sone Blakemore) nên sử dụng tạm thời (dưới 24h) đối với các bệnh nhân được lên kế hoạch điều trị bằng các phương pháp khác (TIPS hay nội soi).

6. Quản lý bệnh nhân xơ gan sau khi được cầm máu
Bệnh nhân sau khi hết chảy máu cần được điều trị dự phòng chảy máu tái phát.
Điều trị kết hợp cột bằng dây thun và ức chế beta không chọn lọc được xem là lựa chọn hiệu quả nhất để điều trị dự phòng chảy máu tái phát.
Ức chế beta không chọn lọc cần được sử dụng liều cao nhất có thể. Cột bằng dây thun cần được kiểm tra mỗi 1-2 tuần cho đến khi không còn tĩnh mạch thực quản giãn. Sau đó, kiểm tra mỗi 1-3 tháng. Sau đó, kiểm tra mỗi 6-12 tháng.
TIPS cần được đề nghị đối với các bệnh nhân Child A hoặc B chảy máu tái phát mặc dù đã được dự phòng kết hợp thuốc và nội soi.

Tham khảo tại: http://www.aasld.org/practiceguideli...listing%2Easpx