Y Cần Thơ- Powered by TheKyOnline.vn
cry

Khóc:

Bài hay của tổ 2, lớp Thái Châu, yk40.

Nhắc GPH của dacryocyst. Cơ chế của khóc. Lợi hay hại?

Tuyến lệ nằm trong một hố ở góc trước ngoài của thành trên ổ mắt. Có hai phần: phần ổ mắt và phần mi. Tuyến lệ có 10- 12 ống ngoại tiết mở vào vòm kết mạc trên.

Túi lệ dài 1- 1.5 cm liên tục với phần trên ống lệ mũi, nằm phía sau dây chằng mi trong. Túi lệ nằm trong một hố giới hạn bởi mào lệ trước và sau.

Cơ chế của khóc: Các nhà nghiên cứu đã chứng minh những gì mà nhiều người chăm sóc đã tự tìm ra: đôi khi không có gì giống như trận khóc lớn sẽ làm cho bạn cảm thấy tốt hơn. Khóc là sự tẩy bỏ.

Nhà thần kinh học và nhà nghiên cứu nước mắt Tiến sĩ William H. Frey II, Tiến sĩ, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Alzheimer tại Bệnh viện vùng trong St. Paul, Minnesota, nghiên cứu về ảnh hưởng của khóc. Ông đã dành hơn 15 năm để nghiên cứu khóc và nước mắt.

Nghiên cứu cho thấy:

·                       85% phụ nữ và 73% nam giới cảm thấy ít buồn và tức giận sau khi khóc

·                       Tính trung bình, phụ nữ khóc 47 lần trong một năm, người đàn ông khóc 7 lần trong một năm

·                       Những cơn khóc kéo dài trung bình trên 6 phút

·                       Nước mắt thường xuyên hơn chảy giữa 7 và 10:00

Theo Frey, "khóc không chỉ là một đáp ứng của con người với nỗi buồn và thất vọng, đó là một đáp ứng có lợi cho sức khỏe. Khóc là một cách tự nhiên để giảm bớt căng thẳng cảm xúc, khi mà không được kiểm soát sẽ gây tiêu cực về thể chất ảnh hưởng đến cơ thể, bao gồm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và các rối loạn liên quan đến stress khác.

 

Dưới đây là năm lý do tại sao khóc là tốt cho bạn:

 

Làm giảm căng thẳng khóc

Bởi vì không làm giảm stress sẽ có nguy cơ đau tim và làm tổn thương một số khu vực của não bộ bản thân, nên khả năng của con người là khóc để tồn tại, Frey nói.

 

Khóc Giảm huyết áp

Khóc đã được chứng minh làm giảm huyết áp, nhịp tim ngay sau buổi trị liệu mà trong thời gian đó họ đã khóc và giận dữ.

 

Nước mắt giúp loại bỏ độc tố

Ngoài ra, Frey nói nước mắt thực sự loại bỏ các độc tố khỏi cơ thể. Liệu rằng họ có thể được loại bỏ, trong nước mắt, hóa chất của họ mà xây dựng lên trong thời gian căng thẳng cảm xúc. "

 

Giảm khóc "Mangan"

Hành động đơn giản khóc cũng làm giảm mức độ manganese của cơ thể, một loại khoáng chất mà ảnh hưởng đến tâm trạng và được tìm thấy trong nước mắt với nồng độ lớn hơn 30 lần so với ở huyết thanh.

 

Một biểu cảm của loài người

Trong khi đôi mắt của tất cả các động vật có vú được làm ẩm và xoa dịu bởi những giọt nước mắt, chỉ có con người rơi nước mắt để đáp ứng với căng thẳng cảm xúc. Biểu hiện cảm xúc đó thừa nhận những cảm giác mà bạn đang gặp phải. Cảm xúc thúc đẩy chúng ta cảm thông, phối hợp và làm việc như 1 thể thống nhất tốt nhất để tồn tại.

 

Vì vậy, lần sau khi bạn cảm thấy những giọt nước mắt trào lên hoặc nghẹn trong cổ họng của bạn, hãy làm đi: khóc cho thật sảng khoái.

·                                  

https://www.agingcare.com/Articles/reasons-why-crying-is-good-for-your-health-146022.htm

 

Tuy nhiên, khóc quá nhiều cũng sẽ mang lại những tác hại ghê gớm cho bản thân:

Khoa học cho rằng ở các bé, khi khóc 1 mình và không ai giám sát, chúng sẽ rơi vào sự hoảng loạn và lo lắng. Các cơ quan và não của bé sẽ bị tràn ngập trong adrenaline và cortisol, stress hormon. Khoa học cũng đã tìm thấy rằng khi mô não phát triển mà bị tiếp xúc với các hormon trên trong thời gian dài sẽ làm cho các dây thần kinh không thể kết nối với nhau và sẽ bị thoái hóa.

Sự mất cân bằng hóa chất và hormon trong não:

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng những trẻ thường xuyên sống xa cha mẹ khi căng thẳng có một nồng độ cao bất thường của hormone cortisol, cũng như mức độ hormone tăng trưởng thấp hơn. Những sự mất cân bằng ức chế sự phát triển của các tế bào thần kinh trong não, ức chế sự tăng trưởng và suy giảm hệ thống miễn dịch. (5, 9, 11, 16)

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Yale và Trường Y Harvard cho thấy stress dữ dội mà xảy ra sớm trong cuộc sống có thể làm thay đổi hệ thống dẫn truyền thần kinh trong não và gây ra những thay đổi về cấu trúc và chức năng trong khu vực của não bộ tương tự như những gặp ở người lớn bị trầm cảm. (17)

Một nghiên cứu cho thấy trẻ sơ sinh đã trải qua giai đoạn khóc dai dẳng  có 10 lần giống như trẻ bị ADHD (bệnh thiếu chú ý và quá hiếu động – ADHD symptoms), cùng với kết quả học tập kém và hành vi chống đối xã hội. Các nhà nghiên cứu kết luận những phát hiện này có thể là do thiếu thái độ phản ứng của cha mẹ đối với con của họ. (14)

Nghiên cứu Tiến sĩ Bruce Perry tại Đại học Baylor có thể giải thích kết quả này. Ông thấy căng thẳng kéo dài sẽ vượt quá kích thích của thân não gốc của trẻ em (một phần của não kiểm soát bài tiết adrenaline), và các phần của não phát triển mạnh mẽ trên thể chất và tình cảm đang bị bỏ quên (chẳng hạn như khi một đứa trẻ liên tục bị để lại cho khóc một mình), đứa trẻ sẽ lớn lên với một hệ thống adrenaline quá tích cực. Một đứa trẻ như vậy sẽ hiển thị thường tăng gây hấn, bốc đồng, và bạo lực sau này trong cuộc sống vì tràn ngập thân não gốc với adrenaline và kích thích tố căng thẳng khác vào các thời không phù hợp và thường xuyên. (6)

Tiến sĩ Allan Schore của trường Y học UCLA đã chứng minh rằng các hormone cortisol (mà tràn ngập ở não trong sự căng thẳng dữ dội khóc và  các stress khác) thực sự phá hủy các kết nối thần kinh trong các phần quan trọng của sự phát triển trí não ở trẻ. Ngoài ra, khi các phần của não chịu trách nhiệm về đáp ứng kèm theo và kiểm soát cảm xúc không được kích thích trong giai đoạn tuổi thơ (cũng có thể xảy ra ở một em bé mà nhiều lần bị bỏ qua) những phần của bộ não sẽ không phát triển. Kết quả - một đứa trẻ bạo lực, bốc đồng, cảm xúc không kiểm soát. Ông kết luận rằng sự nhạy cảm và phản ứng của cha mẹ kích thích và hình thành các kết nối thần kinh trong phần chính của não chịu trách nhiệm gắn bó và tình cảm hạnh phúc. (7, 8)

Giảm trí tuệ, tình cảm, và sự phát triển của xã hội

            Chuyên gia về phát triển trẻ sơ sinh, Tiến sĩ Michael Lewis trình bày kết quả nghiên cứu ở hội nghị Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, kết luận rằng "những ảnh hưởng quan trọng nhất của sự phát triển trí tuệ của trẻ là sự phản ứng của người mẹ để các tín hiệu của con cô ấy."

Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy em bé mà kêu khóc thường bị bỏ qua sẽ không phát triển các kỹ năng trí tuệ và xã hội lành mạnh. (19)

Tiến sĩ Rao và các cộng sự tại Viện Y tế quốc gia cho thấy những trẻ khóc kéo dài (nhưng không phải do đau bụng) trong 3 tháng đầu tiên của cuộc đời có chỉ số IQ trung bình 9 điểm thấp hơn khi 5 tuổi. Họ cũng trình bày là người nghèo có động cơ phát triển tốt. (2)

Các nhà nghiên cứu tại các trường Đại học Tiểu bang Pennsylvania và Tiểu bang Arizona tìm thấy những trẻ khóc quá nhiều trong những tháng đầu tiên sẽ có nhiều khó khăn trong kiểm soát cảm xúc của mình và trở nên cầu kì hơn khi cha mẹ đã cố gắng để an ủi chúng lúc 10 tháng. (15)

Các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng những em bécó sự phiền hà về chất lượng của chúng khi khóc, là sát vào người hơn trong ban ngày, và mất nhiều thời gian để trở nên độc lập như 1 đứa trẻ. (1)

Thay đổi sinh lý gây hại

            Động vật và con người nghiên cứu đã cho thấy khi tách khỏi cha mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em biểu hiện nhiệt độ không ổn định, loạn nhịp tim, và giảm giấc ngủ REM (ngủ mất chuyển động nhanh – Rapid Eye Movement Sleep) (giai đoạn của giấc ngủ đó thúc đẩy phát triển não bộ). (10 12, 13)

Tiến sĩ Brazy tại Đại học Duke và Ludington-Hoe và các đồng nghiệp tại Đại học Case Western cho thấy trong 2 nghiên cứu riêng biệt như thế khi khóc kéo dài ở trẻ gây ra tăng huyết áp trong não, nâng cao hormone căng thẳng, làm cản trở máu từ thoát ra khỏi não, và giảm sự oxy đến não. Họ kết luận rằng những người chăm sóc nên trả lời nhanh chóng, nhất quán, và toàn diện. (3) và (4)

1.       P. Heron, “Non-Reactive Cosleeping and Child Behavior: Getting a Good Night’s Sleep All Night, Every Night,” Master’s thesis, Department of Psychology, University of Bristol, 1994.

2.      M R Rao, et al; Long Term Cognitive Development in Children with Prolonged Crying, National Institutes of Health, Archives of Disease in Childhood 2004; 89:989-992.

3.      J pediatrics 1988 Brazy, J E. Mar 112 (3): 457-61. Duke University

4.      Ludington-Hoe SM, Case Western U, Neonatal Network 2002 Mar; 21(2): 29-36

5.      Butler, S R, et al. Maternal Behavior as a Regulator of Polyamine Biosynthesis in Brain and Heart of Developing Rat Pups. Science 1978, 199:445-447.

6.      Perry, B. (1997), “Incubated in Terror: Neurodevelopmental Factors in the Cycle of Violence,” Children in a Violent Society, Guilford Press, New York.

7.      Schore, A.N. (1996), “The Experience-Dependent Maturation of a Regulatory System in the Orbital Prefrontal Cortex and the Origen of Developmental Psychopathology,” Development and Psychopathology 8: 59 – 87.

8.      Karr-Morse, R, Wiley, M. Interview With Dr. Allan Schore, Ghosts From the Nursery, 1997, pg 200.

9.      Kuhn, C M, et al. Selective Depression of Serum Growth Hormone During Maternal Deprivation in Rat Pups. Science 1978, 201:1035-1036.

10. Hollenbeck, A R, et al. Children with Serious Illness: Behavioral Correlates of Separation and Solution. Child Psychiatry and Human Development 1980, 11:3-11.

11. Coe, C L, et al. Endocrine and Immune Responses to Separation and Maternal Loss in Non-Human Primates. The Psychology of Attachment and Separation, ed. M Reite and T Fields, 1985. Pg. 163-199. New York: Academic Press.

12. Rosenblum and Moltz, The Mother-Infant Interaction as a Regulator of Infant Physiology and Behavior. In Symbiosis in Parent-Offspring Interactions, New York: Plenum, 1983.

13. Hofer, M and H. Shair, Control of Sleep-Wake States in the Infant Rat by Features of the Mother-Infant Relationship. Developmental Psychobiology, 1982, 15:229-243.

14. Wolke, D, et al, Persistent Infant Crying and Hyperactivity Problems in Middle Childhood, Pediatrics, 2002; 109:1054-1060.

15. Stifter and Spinrad, The Effect of Excessive Crying on the Development of Emotion Regulation, Infancy, 2002; 3(2), 133-152.

16. Ahnert L, et al, Transition to Child Care: Associations with Infant-mother Attachment, Infant Negative Emotion, and Cortisol Elevations, Child Development, 2004, May-June; 75(3):649-650.

17. Kaufman J, Charney D. Effects of Early Stress on Brain Structure and Function: Implications for Understanding the Relationship Between Child Maltreatment and Depression, Developmental Psychopathology, 2001 Summer; 13(3):451-471.

18. Teicher MH et al, The Neurobiological Consequences of Early Stress and Childhood Maltreatment, Neuroscience Biobehavior Review 2003, Jan-Mar; 27(1-2):33-44.

19. Leiberman, A. F., & Zeanah, H., Disorders of Attachment in Infancy, Infant Psychiatry 1995, 4:571-587.

 

http://www.askdrsears.com/topics/health-concerns/fussy-baby/science-says-excessive-crying-could-be-harmful

 

Đăng bởi: ycantho - Ngày đăng: 14/11/2015
Ngoại ngữ Thuốc Nhi Sản Ngoại - Thủ thuật - Mổ Bệnh học nội - Phác đồ Đọc giúp bạn Vui để học Basic sciences Đề thi E-LearningDiễn đàn Y Cần ThơQuyên Góp

Số lượt truy cập
22.554.914
58 người đang xem


.